- 1. Nguồn chứng cứ là gì?
- 2. Nguồn chứng cứ trong Tố tụng hình sự
- 2.1. Vật chứng
- *Thu thập, bảo quản vật chứng
- *Xử lý vật chứng (Điều 106 BLTTHS 2015)
- 2.2. Lời khai, lời trình bày
- 2.3. Dữ liệu điện tử
- 2.4. Kết luận giám định, định giá tài sản
- 2.5. Biên bản trong hoạt động khởi tổ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
- 2.6. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
- 2.7. Các tài liệu, đồ vật khác
- 3. Nguồn chứng cứ trong Tố tụng dân sự
- 3.1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử
- 3.2. Vật chứng
- 3.3. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng
- 3.4. Kết luận giám định, biên bản ghi lời khai/hỏi
- 3.5. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
- 3.6. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập
- 3.7. Văn bản công chứng, chứng thực
- Kết luận
Nguồn chứng cứ là những tài liệu, vật chứng, lời khai hoặc thông tin khác được thu thập trong quá trình điều tra, xét xử và có giá trị chứng minh sự thật của vụ án. Chứng cứ không chỉ giúp các cơ quan tố tụng xác định đúng sai mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã quy định rõ ràng về các nguồn chứng cứ, từ lời khai của các bên tham gia tố tụng, đến vật chứng, tài liệu và các kết luận giám định. Việc hiểu rõ và áp dụng đúng các nguồn chứng cứ là yếu tố then chốt giúp đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết các vụ án hình sự và dân sự.
1. Nguồn chứng cứ là gì?
Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứa đựng các thông tin tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thường được gọi bằng thuật ngữ khác là phương tiện chứng minh.
Theo quy định của Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì chứng cứ được xác định bằng các nguồn là vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử, kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác. Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã xác định rõ ràng phạm vi các loại nguồn chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng có thể sử dụng để chứng minh sự thật khách quan của vụ án.
Mặt khác, nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự được hiểu là nơi hoặc phương tiện chứa đựng các thông tin, dữ liệu có ý nghĩa chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của các bên đương sự trong vụ việc dân sự. Đây là cơ sở giúp Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, làm căn cứ để ra phán quyết đúng đắn và cân bằng.
Theo quy định Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì "Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác." Như vậy pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định khá rộng về phạm vi nguồn chứng cứ, nhằm phản ánh đặc thù của quan hệ dân sự - nơi mà chứng cứ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, kể cả các dữ liệu điện tử, chứng cứ kỹ thuật số hay tài liệu do bên thứ ba cung cấp.
Từ những phân tích trên có thể thấy, mặc dù nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự đều là nơi chứa đựng các thông tin khách quan có ý nghĩa chứng minh, nhưng tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụ việc và chủ thể tiến hành tố tụng mà phạm vi, cách thức thu nhập và giá trị pháp lý của nguồn chứng cứ được pháp luật quy định khác nhau nhưng vẫn đến mục tiêu là bảo đảm các minh sự thật khách quan, toàn diện và đúng pháp luật của vụ án.
2. Nguồn chứng cứ trong Tố tụng hình sự
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điều 87 quy định về nguồn chứng cứ được bao gồm những nguồn chứng cứ sau:
2.1. Vật chứng
Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ có giá trị đặc biệt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Theo Điều 89 BLTTHS năm 2015, vật chứng được hiểu là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết của tội phạm vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Như vậy, vật chứng là hiện vật có thật, tồn tại khách quan, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vụ án, phản ánh một cách trực quan, sinh động về hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi và hậu quả của tội phạm.
Khác với loại chứng cứ khác mang tính mô tả hay gián tiếp (như lời khai, kết luận, giám định,...) vật chứng có gia trị chứng minh trực quan và thuyết phục cao, bởi nó phản ánh dấu vết, hậu quả hoặc phương tiện của hành vi phạm tội một cách cụ thể, có thể quan sát, kiểm tra, giám định được. Chính tính hiện thực và khả năng kiểm chứng khách quan đó khiến vật chứng trở thành nguồn chứng cứ đặc biệt quan trọng, góp phần xác định chính xác bản chất sự việc, xác định người có hành vi phạm tội, cũng như loại trừ những yếu tố suy diễn chỉ quan trong hoạt động tố tụng hình sự.
*Thu thập, bảo quản vật chứng
Do vai trò tối quan trọng, BLTTHS 2015 quy định thủ tục thu thập và bảo quản vật chứng rất cụ thể, chặt chẽ để đảm bảo tính hợp pháp.
Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng khi thu thập để đưa vào hồ sơ vụ án. Đối với vật chứng không thể đưa vào hồ sơ (ví dụ: vật quá lớn) thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc thu thập vật chứng phải được lập biên bản.
Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn và hư hỏng. Mục đích chính của việc bảo quản là bảo vệ giá trị chứng minh của chứng cứ. Trình tự, thủ tục bảo quản các loại vật chứng khác nhau được quy định cụ thể tại Điều 90 BLTTHS năm 2015:
- Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
- Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác.
- Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lí hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản.
- Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản có thể được quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc nhà nước để quản lí.
Trách nhiệm bảo quản vật chứng thuộc về cơ quan Công an/Quân đội/cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra, truy tố; và Cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
*Xử lý vật chứng (Điều 106 BLTTHS 2015)
Thẩm quyền xử lý vật chứng theo giai đoạn tố tụng thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc Tòa án. Cơ quan điều tra xử lý vụ án đình chỉ hoặc cần thiết trong giai đoạn điều tra; viện kiểm sát xử lý ở giai đoạn truy tố; Tòa án xử lý ở giai đoạn xét xử.
Vật chứng có thể bị tịch thu, nộp ngân sách hoặc tiêu hủy tùy theo loại: công cụ phạm tội, vật cấm bị tịch thu, tiêu hủy; tiền bạc, tài sản phạm tội bị tịch thu; vật chứng không có giá trị bị tiêu hủy
Trong quá trình tiêu hủy, cơ quan có thẩm quyền có quyền trả lại tài sản không phải vật chứng hoặc vật chứng nếu không ảnh hưởng đến vụ án. Vật chứng dễ bị hỏng có thể được bán và tiêu hủy. Động vật hoang dã, thực vật ngoại lai sau giám định được giao cơ quan quản lý chuyên ngành xử lý
2.2. Lời khai, lời trình bày
BLTTHS 2015 không chỉ công nhận "Lời khai" của bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng mà còn xác định cả "Lời trình bày" của bất cứ ai biết thông tin về vụ án hình sự là nguồn chứng cứ. Sự mở rộng này nhằm thu thập được đầy đủ thông tin từ tất cả các chủ thể tham gia hoặc biết về vụ án.
2.3. Dữ liệu điện tử
Việc bổ sung Dữ liệu điện tử là một cập nhật quan trọng để đối phó với tội phạm công nghệ cao. Theo Điều 99 BLTTHS 2015, Dữ liệu điện tử được định nghĩa là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
Nguồn thu thập dữ liệu này rất đa dạng, bao gồm từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác. Dữ liệu điện tử tồn tại dưới dạng kỹ thuật số (Bits, Bytes) và không thể nhận biết bằng giác quan thông thường, mà cần thiết bị chuyên dụng để truy cập và thu thập. Mặc dù việc đưa dữ liệu điện tử vào danh mục nguồn chứng cứ là cần thiết, nhưng việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chúng đòi hỏi quy trình pháp y kỹ thuật số (digital forensics) phức tạp.
Các cơ quan tố tụng địa phương thường gặp khó khăn về kỹ thuật và nhân lực dẫn đến nguy cơ vi phạm tính hợp pháp trong khâu thu thập. Nếu quy trình kỹ thuật không được chuẩn hóa và thực hiện nghiêm ngặt, dữ liệu điện tử có thật cũng sẽ bị loại trừ vì không đảm bảo tính hợp pháp theo Khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
2.4. Kết luận giám định, định giá tài sản
Nguồn chứng cứ này được quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 87 BLTTHS 2015 và bao gồm hai hình thức:
- Kết luận giám định: Là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định (Điều 100 BLTTHS 2015).
- Kết luận định giá tài sản: khẳng định giá trị độc lập của kết luận định giá tài sản trong việc xác định giá trị thiệt hại trong các vụ án kinh tế, tham nhũng hoặc tài sản khác.
Kết luận giám định tư pháp là một biện pháp thu thập chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền, có vai trò đánh giá trình độ phát triển pháp luật và mức độ dân chủ của một Quốc gia. Nó cung cấp thông tin chuyên môn không thể xác định bằng các biện pháp điều tra thông thường, ví dụ: nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe, hoặc xác định chất ma túy, vũ khí quân dụng.
2.5. Biên bản trong hoạt động khởi tổ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
Các hoạt động tố tụng trong điều tra và xét xử vụ án hình sự như bắt người, giữ người, khám xét, khảm nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, tiến hành phiên toà và các hoạt động tố tụng khác (thu giữ tài liệu, điện tín, điện báo, xem xét dấu vết trên thân thể...) thực hiện theo quy định của pháp luật đều phải lập thành biên bản. Những tình tiết được ghi trong các biên bản đó có thể được coi là chứng cứ (Điều 102 BLTTHS năm 2015).
Để được coi là chứng cứ, tức thoả mãn các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp, biền bản hoạt động tố tụng phải được thực hiện một cách khách quan, thể hiện toàn bộ diễn biến của hoạt động tố tụng, theo đúng các hình thức, thủ tục được pháp luật quy định (Điều 133 BLTTHS năm 2015).
2.6. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
Kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp và họp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án (Điều 103 BLTTHS năm 2015).
Tài liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập theo ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tài liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài gửi đến Việt Nam để uỷ thác truy cứu trách nhiệm hình sự có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đầy đủ đặc điểm của vật chứng theo quy định tại Điều 89 của BLTTHS thi có thể được coi là vật chứng (Điều 494 BLTTHS năm 2015).
2.7. Các tài liệu, đồ vật khác
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cung cấp các tài liệu cũng như đồ vật cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ngoài các tài liệu, đồ vật là vật chứng theo quy định tại Điều 89 BLTTHS năm 2015, các tình tiết được ghi nhận, thể hiện trong các tài liệu, đồ vật đó nếu phù hợp với thực tế, liên quan đến vụ án, được thu thập theo quy định của pháp luật (tức có đầy đủ đặc tính của chứng cứ) có thể được coi là chứng cứ (Điều 104 BLTTHS năm 2015).
3. Nguồn chứng cứ trong Tố tụng dân sự
Trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điều 94 quy định về nguồn chứng cứ được bao gồm những nguồn chứng cứ sau:
3.1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử
Tài liệu đọc được nội dung được công nhận là chứng cứ nếu chúng là bản chính hoặc bản sao đã được công chứng, chứng thực hợp pháp, hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp và xác nhận. Yêu cầu này nhằm đảm bảo tính nguyên gốc và tính xác thực của tài liệu.
Tài liệu nghe được, nhìn được là các tài liệu như băng ghi âm, đĩa ghi hình chỉ được coi là chứng cứ khi có văn bản giải trình của người thu âm, thu hình về xuất xứ của tài liệu, hoặc văn bản xác nhận của người đã cung cấp tài liệu cho người xuất trình. Việc xác minh nguồn gốc và tính hợp pháp của tài liệu nghe, nhìn được rất quan trọng.
Chứng cứ dưới dạng Thông điệp dữ liệu điện tử được quy định rõ tại BLTTDS 2015, bao gồm trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử (email), điện tín, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp, các thông điệp này cần được chứng minh không bị giả mạo hoặc sửa chửa. Đương sự phải chứng minh tính nguyên vẹn của dữ liệu giao dịch và đảm bảo nội dung của chúng phản ánh đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Thường cần có sự xác nhận của nhà mạng hoặc bên thứ ba để đảm bảo tính toàn vẹn và giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử này.
3.2. Vật chứng
Vật chứng là các hiện vật, đồ vật hoặc tài sản có liên quan trực tiếp đến vụ việc hoặc tranh chấp, được sử dụng làm chứng cứ. Thể hiện các vật gốc tức là những vật có thể xác minh rõ ràng về nguồn gốc và liên quan trực tiếp đến tranh chấp hoặc hành vi vi phạm mà các bên đang tranh cãi. Vật chứng có thể bao gồm tài sản, giấy tờ, vật dụng hoặc bất kỳ hiện vật nào có giá trị chứng minh.
Việc thu thập và bảo quản vật chứng phải tuân thủ các quy định pháp lý chặt chẽ để bảo đảm tính toàn vẹn của chúng trong suốt quá trình tố tụng, từ khi thu thập cho đến khi đưa ra tòa án xét xử. Các vật chứng này có thể được đưa vào hồ sơ vụ án nếu chúng có khả năng chứng minh một cách rõ ràng các sự kiện, hành vi trong vụ việc đang tranh chấp.
3.3. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng
Lời khai của đương sự (bao gồm nguyên đơn, bị đơn, hoặc những người có quyền và nghĩa vụ liên quan) và lời khai của người làm chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Lời khai được coi là chứng cứ nếu được ghi lại bằng văn bản, bằng ghi âm, đĩa ghi âm hoặc lời khai trực tiếp tại phiên tòa. Việc thu thập lời khai phải đảm bảo thực hiện theo đúng các thủ tục pháp lý, bao gồm việc ghi nhận chính xác nội dung của ời khai và việc đối chiếu, xắc minh lời khai đó với các chứng cứ khác.
Lời khai của đương sự, đặc biệt là trong các vụ án dân sự có liên quan đến tranh chấp tài sản hoặc nghĩa vụ, đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các yếu tố liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.
3.4. Kết luận giám định, biên bản ghi lời khai/hỏi
Kết luận giám định và biên bản ghi lời khai/hỏi là những chứng cứ quan trọng trong tố tụng dân sự. Kết luận giám định phải được thực hiện theo đúng quy trình và thủ tục mà pháp luật quy định để có giá trị pháp lý. Giám định có thể được tiến hành đối với các tài sản, hiện vật, hay các vấn đề chuyên môn mà tòa án yêu cầu, chẳng hạn như định giá tài sản, xác minh tính xác thực của tài liệu, hoặc kiểm tra các vấn đề y tế, tâm lý. Kết luận giám định phải đảm bảo tính khách quan và trung thực, được thực hiện bởi các giám định viên có chuyên môn và được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Biên bản ghi lời khai/hỏi của các bên liên quan cũng phải tuân thủ thủ tục pháp lý chặt chẽ. Những biên bản này được lập bởi các cơ quan có thẩm quyền, trong đó ghi lại chi tiết về lời khai của các đương sự, người làm chứng hoặc các bên liên quan. Những biên bản này là cơ sở để tòa án đánh giá và xác minh tính hợp pháp, tính xác thực của các chứng cứ, và chúng sẽ có giá trị pháp lý nếu được thực hiện đúng quy định.
3.5. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
Đây là nguồn chứng cứ xác định giá trị của tài sản (hoặc thiệt hại) đang có tranh chấp. Trong nhiều vụ án dân sự (như tranh chấp tài sản, chia tài sản chung, bồi thường thiệt hại), việc xác định chính xác giá trị tài sản là mấu chốt để giải quyết vụ án.
Giá trị pháp lý của nguồn chứng cứ này nằm ở việc nó cung cấp một cơ sở (thường là bằng tiền) để Tòa án thực hiện việc phân chia, tính toán nghĩa vụ hoặc xác định mức độ bồi thường. Kết quả này không phải là tuyệt đối; các bên có quyền đưa ra ý kiến, phản đối kết quả định giá/thẩm định giá nếu cho rằng nó không chính xác hoặc không khách quan.
3.6. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập
Đây là các tài liệu được lập bởi những người (hoặc cơ quan) được Nhà nước trao thẩm quyền, ghi lại các sự kiện hoặc hành vi pháp lý một cách chính thức. Giá trị của chúng dựa trên thẩm quyền và trách nhiệm của người lập ra văn bản đó. Các văn bản này có giá trị chứng minh cao vì chúng được coi là sự ghi nhận khách quan tại thời điểm diễn ra sự việc. Theo Khoản 3, Điều 93 BLTTDS 2015, sự kiện, hành vi pháp lý được ghi nhận trong văn bản do người có chức năng lập được coi là xác thực (đúng sự thật), trừ khi có chứng cứ chứng minh ngược lại. Điều này có nghĩa là nghĩa vụ chứng minh sẽ chuyển sang cho bên phản đối tính xác thực của văn bản đó.
Ví dụ: Vi bằng của Thừa phát lại (Theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP). Một chủ nhà lập vi bằng ghi nhận hành vi người thuê nhà tự ý đập phá, thay đổi kết cấu căn nhà. Vi bằng này (do Thừa phát lại lập) là nguồn chứng cứ (theo Khoản 8) để chứng minh hành vi vi phạm hợp đồng của người thuê.
3.7. Văn bản công chứng, chứng thực
Đây là các văn bản (hợp đồng, giao dịch, bản sao giấy tờ) đã trải qua thủ tục công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật, đảm bảo về hình thức và tính xác thực của nội dung hoặc chữ ký.
Khoản 4, Điều 93 BLTTDS 2015 quy định rõ: "Văn bản công chứng, chứng thực được coi là xác thực, trừ trường hợp có chứng cứ chứng minh là giả mạo hoặc được lập, xác nhận không đúng trình tự, thủ tục".
Điều này có nghĩa là, nếu một bên nộp hợp đồng đã công chứng, Tòa án mặc nhiên công nhận nó là thật. Bên còn lại nếu cho rằng hợp đồng này giả mạo (ví dụ: giả chữ ký rồi mang đi công chứng) thì bên đó phải đưa ra chứng cứ (ví dụ: yêu cầu giám định chữ ký).
Kết luận
Nguồn chứng cứ đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính khách quan và công bằng của một vụ án. Việc quy định chi tiết các nguồn chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Tố tụng dân sự không chỉ giúp đỡ quan tố tụng xác định được sự thật khách quan mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Các chứng cứ như vật chứng, lời khai, tài liệu, kết luận giám định và các nguồn chứng cứ khác phải được thu thập, bảo vệ và đánh giá đúng quy định pháp luật. Do đó, việc hiểu rõ các nguồn chứng cứ sẽ giúp tăng cường hiệu quả trong công tác điều tra, xét xử, góp phần tạo dựng hệ thống tư pháp công bằng, minh bạch.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về chứng cứ, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng./