1. Chứng minh là gì?

Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc của Tòa án nên có nội hàm rất rộng. Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thấy rõ nó là có thật, là đúng với thực tế.

Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc.

2. Thế nào là những vấn đề phải chứng minh?

Một trong những nhiệm vụ tất yếu của quá trình giải quyết vụ án hình sự là xác định sự thật khách quan của vụ án liên quan tới tội phạm, người phạm tội và các vấn đề liên quan. Tập hợp các vấn đề cần phải xác định này gọi là những vấn đề phải chứng minh của vụ án.

3. Những vấn đề phải chứng minh theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Đối với bất kỳ vụ án hình sự nào, vấn đề đầu tiên đặt ra cho các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định được những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự để từ đó có hướng thu thập chứng cứ. Tùy thuộc vào từng loại tội phạm trong mỗi loại vụ án khác nhau mà những vấn đề cần phải chứng minh khác nhau. Ví dụ, những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự về các tội phạm tham nhũng khác với những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự về các tội phạm ma túy. Pháp luật tố tụng hình sự không thể đặt ra những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự đối với mỗi loại vụ án hình sự có các tội phạm khác nhau mà chỉ có thể quy định chung nhất về những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.

Nếu như trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự liên quan đến hành vi phạm tội, chủ thể của tội phạm thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng hơn trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, không chỉ hành vi phạm tội, chủ thể của tội phạm mà phải chứng minh về nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng như những tình tiết khác có liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho những người bị tình nghi phạm tội (khoản 5 và khoản 6 Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Điều này đặt ra yêu cầu cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải khách quan, toàn diện trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tránh sự phiến diện, một chiều chỉ theo hướng buộc tội là chủ yếu như đã từng xảy ra.

4. Phân tích những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự

- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội. Việc chứng minh vấn đề này cho phép khẳng định hành vi phạm tội có xảy ra trên thực tế hay không, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội như thời gian, địa điểm, diễn biến, công cụ, phương tiện phạm tội…như thế nào. Đây là những dấu hiệu thuộc khách thể và mặt khách quan của tội phạm.

- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội. Nếu chứng minh được có hành vi phạm tội xảy đã xảy ra trên thực tế thì câu hỏi tiếp theo là ai đã thực hiện hành vi phạm tội, nghĩa là xác định chủ thể của tội phạm. Tiếp đó, cần chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội có lỗi hay không có lỗi, nếu có lỗi thì lỗi vô ý hay cố ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không. Đây là những yếu tố về chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm, có ý nghĩa trong việc xác định người đã thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không.

- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Sau khi xác định được hành vi phạm tội và người phạm tội, cần làm rõ các tình tiết có ý nghĩa khi quyết định hình phạt đối với bị cáo như luật các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và 52 Bộ luật Hình sự; các đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là vấn đề cần được chứng minh vì tùy từng vụ án mà đây sẽ là tình tiết có ý nghĩa định tội, khung hình phạt, cân nhắc mức hình phạt và/hoặc nhằm giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án. Việc làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội một mặt nhằm cân nhắc xử lý phù hợp với bị cáo, mặt khác giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đưa ra những kiến nghị, yêu cầu để loại trừ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, phòng ngừa tội phạm.

- Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Đây là điểm mới được bổ sung trong quy định của điều luật so với Điều 63 BLTTHS năm 2003. Trong việc giải quyết vụ án hình sự, ngoài trường hợp tuyên bố bị cáo phạm tội và áp dụng hình phạt tương ứng còn có những trường hợp bị can, bị cáo được loại trừ trách nhiệm hình sự có thể là sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên. Các tình tiết liên quan đến việc miễn trách nhiệm hình sự như người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được bị hại hoặc người đại diện của bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Các tình tiết liên quan tới việc miễn hình phạt như bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

5. Nghĩa vụ chứng minh

Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 - Xác định sự thật của vụ án thì:

“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”.

Theo quy định trên thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, truy tố và xét xử. Ngoài ra, một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 35 BLTTHS năm 2015. Quy định “… Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”,

Từ những phân tích nêu trên đây chính là một phần nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội theo quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015, đó là: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng việc chứng minh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giai đoạn tố tụng có những đặc điểm khác nhau.

Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và Hội đồng xét xử.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, do vậy, kể cả trong trường hợp người phạm tội không đưa ra được những chứng cứ để chứng minh là họ vô tội thì cũng không thể vì thế mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kết tội họ.

6. Quá trình chứng minh

- Thu thập chứng cứ : là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ.

+ Những biện pháp thu thập chứng cứ rất đa dạng tùy thuộc đặc điểm vào từng loại chứng cứ nhưng phải hợp pháp. Chỉ được sử dụng các biện pháp mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định và phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mới bảo đảm cho chứng cứ thu được có giá trị.

+ Chứng minh tội phạm và người phạm tội chỉ những người có thẩm quyền tố tụng mới được thu thập chứng cứ. Bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án nhưng họ không có nghĩa vụ phải thu thập chứng cứ. Khi thu thập chứng cứ, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản tố tụng để ghi nhận những chứng cứ đó.

- Đánh giá chứng cứ: là việc xác định một cách thận trọng, toàn diện, khách quan mức độ tin cậy của những tình tiết thực tế đã thu thập được cũng như nguồn của nó để xác lập đúng đắn những những tình tiết của vụ án.

+ Nhằm xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ cũng như toàn bộ chứng cứ đã thu thập được.

+ Chủ thể của đánh giá chứng cứ là những người tham gia vào quá trình tố tụng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)