1. Thuộc tính văn bản thông tư 149/2020/TT-BCA hướng dẫn Luật Phòng cháy, chữa cháy
Thông tư có số hiệu 149/2020/TT-BCA là một văn bản quan trọng do Bộ Công An ban hành. Được đặt chữ ký của ông Tô Lâm, người đứng đầu Bộ Công An, Thông tư 149/2020/TT-BCA chính thức ra đời vào ngày 31/12/2020 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 20/02/2021. Thông tin về nó đã được công bố vào ngày 27/01/2021 thông qua công báo từ số 121 đến số 122.
Thông tư 149/2020/TT-BCA hiện vẫn đang giữ vững hiệu lực và có thể chứa những quy định, hướng dẫn, hoặc chính sách quan trọng liên quan đến lĩnh vực mà Bộ Công An đang quản lý và điều hành. Điều này đảm bảo rằng nó tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự và an ninh trong xã hội.
2. Điểm mới về thông tư 149/2020/TT-BCA hướng dẫn Luật Phòng cháy, chữa cháy
Thông tư số 149/2020/TT-BCA đã được ban hành để thay thế Thông tư số 66/2014/TT-BCA, ngày 16/12/2014, của Bộ trưởng Bộ Công an, quy định chi tiết về việc thi hành một số điều của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP, ngày 31/7/2014, của Chính phủ, liên quan đến việc thi hành Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC. Đồng thời, nó cũng thay thế Thông tư số 36/2018/TT-BCA, ngày 05/12/2018, của Bộ trưởng Bộ Công an, liên quan đến việc sửa đổi và bổ sung một số điều của Thông tư số 66/2014/TT-BCA, ngày 16/12/2014, của Bộ trưởng Bộ Công an.Thông qua việc thay thế này, Thông tư số 149/2020/TT-BCA đánh dấu sự cập nhật và điều chỉnh quy định về PCCC để phù hợp với tình hình và yêu cầu hiện tại trong lĩnh vực này.
Theo đó, tại Thông tư 149/2020/TT-BCA được ban hành, có một số điểm mới như sau:
(1) Tại Điều 9 “Thẩm quyền phê duyệt phương án”:
Bổ sung thêm 02 thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy tại địa bàn thuộc lĩnh vực mình quản lý phụ trách, đó là: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Trưởng Công an cấp huyện.
Phương án chữa cháy của Cảnh sát PCCC có huy động lực lượng, phương tiện của nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước đây được Cục trưởng Cục Cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ (CNCH) phê duyệt nay chuyển thành Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt.
(2) Tại khoản 1, Điều 14 có quy định về nội dung, thời lượng bồi dưỡng kiến thức về PCCC theo từng đối tượng của cơ sở kinh doanh các dịch vụ PCCC chỉ phải tham gia bồi dưỡng kiến thức với thời gian: Từ 04 đến 12 ngày.
Trước đó, Nghị định 79/2014/NĐ-CP quy định về thời lượng bồi dưỡng kiến thức để cấp chứng chỉ cho người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kinh doanh về PCCC là 06 tháng. Điều này gây nhiều khó khăn trong việc bố trí thời gian học và hoạt động quản lý của người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Việc cắt giảm thời lượng, đơn giản thủ tục kinh doanh dịch vụ PCCC là một trong nhiều điểm mới quan trọng giải quyết cơ bản những vướng mắc, bất cập của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ.
(3) Đặc biệt, Điều 11, Điều 12 của Thông tư có thêm các nội dung liên quan đến vấn đề: Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu về PCCC, truyền tin báo sự cố và Đầu tư, quản lý, khai thác vận hành hệ thống này.
Đây là nội dung mới từ trước đến nay chưa được đề cập đến tại các thông tư khác có liên quan đến công tác PCCC và CNCH.
Tại khoản 2, Điều 11 có nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của hệ thống Cơ sở dữ liệu về PCCC (nhằm phục vụ tốt cho công tác nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH) gồm: Thông tin báo sự cố (cháy, tai nạn; báo lỗi của hệ thống, thiết bị báo cháy), tình trạng hoạt động của hệ thống PCCC và các hệ thống kỹ thuật có liên quan đến PCCC tại cơ sở; đặc điểm của cơ sở có liên quan đến công tác PCCC và CNCH; lực lượng, phương tiện, hệ thống giao thông, nguồn nước phục vụ hoạt động PCCC và CNCH của cơ sở; công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về PCCC và CNCH; việc thực hiện quy định về PCCC trong đầu tư xây dựng; phương án chữa cháy, phương án CNCH; tình hình cháy, nổ, sự cố, tai nạn của cơ sở; những thay đổi của cơ sở có liên quan đến công tác PCCC và CNCH; các thông tin khác có liên quan đến hoạt động PCCC và CNCH của cơ sở.
Tại khoản 2, Điều 12 cũng thể hiện rõ các nội dung về quy định trách nhiệm của cơ sở thuộc diện phải cung cấp cơ sở dữ liệu về PCCC và lắp đặt thiết bị truyền tin báo sự cố, cụ thể:
Bố trí người có trách nhiệm cập nhật đầy đủ các thông tin về công tác PCCC và CNCH tại cơ sở theo yêu cầu của cơ quan Công an; trường hợp có thay đổi so với thông tin ban đầu thì phải cập nhật ngay những thông tin thay đổi; chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời của thông tin;
Lựa chọn thiết bị truyền tin báo sự cố phù hợp để đáp ứng được yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư số 149/2020/TT-BCA. Cài đặt tối thiểu 02 số điện thoại thường trực nhận tin nhắn, cuộc gọi cảnh báo cháy, sự cố, tai nạn từ hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy và truyền tin báo sự cố;
Chịu trách nhiệm quản lý thiết bị truyền tin báo sự cố theo đúng thông tin đã cung cấp cho cơ quan Công an. Sử dụng, vận hành, bảo dưỡng, bảo trì thiết bị đúng kỹ thuật, đúng quy trình của đơn vị cung cấp dịch vụ và hướng dẫn của cơ quan Công an.
Trên cơ sở các nội dung trên cho thấy, việc bổ sung các quy định nêu trên vừa góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực PCCC và CNCH, vừa nêu cao tinh thần trách nhệm của các chủ cơ sở trong việc phòng ngừa đảm bảo an toàn PCCC nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và tài sản cho cơ sở khi xảy ra cháy, nổ
3. Thông tư 149/2020/TT-BCA quy định về thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy như thế nào?
Tại Điều 9 của Thông tư số 149/2020/TT-BCA, quy định về thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy được thực hiện như sau:
- Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ quan Công an khi có huy động lực lượng và phương tiện của Công an tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ quan Công an khi có huy động lực lượng và phương tiện của cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý.
- Giám đốc Công an cấp tỉnh có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ quan Công an khi có huy động lực lượng và phương tiện của nhiều lực lượng Công an trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ quan Công an khi có huy động lực lượng và phương tiện của cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý.
- Trưởng phòng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ sở và phương án chữa cháy của cơ quan Công an đối với các cơ sở được phân cấp quản lý.
- Trưởng Công an cấp huyện có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ sở và phương án chữa cháy của cơ quan Công an đối với các cơ sở được phân cấp quản lý.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của khu dân cư thuộc phạm vi quản lý; người đứng đầu cơ sở thuộc danh mục quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 136/2020/NĐ-CP có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ sở đối với cơ sở thuộc phạm vi quản lý; chủ phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy có thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy của cơ sở đối với phương tiện giao thông cơ giới thuộc phạm vi quản lý.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 4 của Điều 19 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP, người có thẩm quyền quy định tại các điểm đ, e và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quy định tại điểm g khoản 1 Điều 9Thông tư 149/2020/TT-BCA có trách nhiệm xem xét, phê duyệt và lưu giữ 01 bản phương án chữa cháy của cơ sở đã được phê duyệt; trường hợp không phê duyệt, phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do.
Phương án chữa cháy của cơ quan Công an sau khi được phê duyệt theo quy định, đơn vị trực tiếp xây dựng phương án có trách nhiệm xây dựng Phiếu chiến thuật chữa cháy theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này và sao gửi cho cơ quan Công an có lực lượng, phương tiện tham gia trong phương án.
Xem thêm: Hướng dẫn hồ sơ, trình tự đề nghị cấp Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy