1. Người lao động làm việc tại doanh nghiệp được hưởng BHXH một lần trong trường hợp nào?
Theo quy định tạ khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động là công dân Việt Nam làm việc tại doanh nghiệp thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động.
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng 2020
- Người quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương
Người lao động làm việc tại doanh nghiệp là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (nêu trên) mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
- Ra nước ngoài để định cư
- Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.
2. Điều kiện người bệnh hưởng bảo hiểm xã hội một lần
Thông tư 56/2017/TT-BYT quy định chi tiết thi hành Luật Bảo hiểm xã hội và Luật An toàn vệ sinh lao động thuộc lĩnh vực y tế vừa được Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 31/12/2022 có hiệu lực từ ngày 15/02/2023.
Theo đó, quy định mới tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 18 sửa đổi các trường hợp mắc bệnh được hưởng bảo hiểm xã hội một lần như sau:
" Ngoài trường hợp đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS quy định tại điểm c khoản 1 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội, người mắc các bệnh, tật có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn được hưởng bảo hiểm xã hội một lần"
Trong khi đó, quy định cũ tại Điều 4 Thông tư 56/2017/TT-BYT đang quy định các bệnh được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần gồm nhóm bệnh: Ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS đồng thời không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Các bệnh, tật ngoài các bệnh như trên có mức suy giảm khả năng lao động hoặc mức độ khuyết tật từ 81% trở lên và không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Như vậy, thông tư mới đã rút gọn điều kiện rút bảo hiểm xã hội một lần so với Thông tư 56/2017. Trước đây, lao động mắc bệnh nguy hiểm tính mạng đồng thời đáp ứng điều kiện không tự sinh hoạt được cần người chăm sóc. Nhóm thứ hai là lao động mắc bệnh khác mà bị suy giảm khả năng lao động hoặc độ khuyết tật từ 81% trở lên và không tự sinh hoặc cần người chăm sóc hoàn toàn.
Riêng các bệnh, tật khác thì phải có đồng thời hai điều kiện: Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và không tự kiểm soát/tự thực hiện các hoạt động phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày và phải có người theo dõi, giúp đỡ... hoàn toàn thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, hiện nay người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc các trường hợp còn lại mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc các trường hợp sau: Lao động hưởng lương hưu mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội có nhu cầu rút; lao động nữ chuyên trách ở xã phường nghỉ việc ở tuổi 55 đóng bảo hiểm xã hội từ 15 đến dưới 20 năm; người ra nước ngoài định cư; một số trường hợp trong lực lượng vũ trang khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Hồ sơ giám định hưởng bảo hiểm xã hội một lần là bản chính hoặc bản sao hợp lệ một trong số giấy tờ sau: Tóm tắt hồ sơ bệnh án, giấy xác nhận khuyết tật, giấy ra viện, sổ khám bệnh, phiếu khám bệnh, phiếu kết quả cận lâm sàng, đơn thuốc của cơ sở khám chữa bệnh, hồ sơ bệnh nghề nghiệp, biên bản giám định y khoa lần gần nhất đối với người đã được khám giám định.
Thông tư mới hiện nay đã loại bỏ biên bản giám định bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động với người được khám giám định và bổ sung các giấy tờ như phiếu kết quả cận lâm sàng, đơn thuộc của cơ sở khám chữa bệnh. Người lao động chỉ cần có bản chính hoặc bản sao hợp lệ của một trong số giấy tờ này, không cần có tất cả giấy tờ.
Đồng thời, theo quy định tại khoản 13 Điều 1 Thông tư 18/2022 còn bổ sung thêm quy định về cấp giấy ra viện và giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cho người nhiễm Covid-19 điều trị tại cơ sở khám, chữa bệnh:
- Đối tượng cấp giấy: Người nhiễm Covid-19 điều trị nội trú/ngoại trú tại cơ sở khám, chữa bệnh; cơ sở thu dụng, điều trị Covid-19 như bệnh viện dã chiến, bệnh viện điều trị Covid-19, bệnh viện hồi sức cấp cứu Covid-19, trung tâm hồi sức tích cực người bệnh Covid-19.
- Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy: Người đứng đầu các cơ sở khám, chữa bệnh nêu trên hoặc người đứng đầu ủy quyền
- Trình tự cấp giấy ra viện, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội:
+ Sau khi kết thúc điều trị, người bệnh được cấp hai loại giấy tờ này. Các giấy đã cấp trước ngày 15/02/2023 không đúng mẫu thì sẽ được cấp lại
+ Người lao động đã điều trị Covid-19 nhưng chưa được cấp giấy ra viện/giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội thì căn cứ đề nghị của người này và hồ sơ bệnh án để cấp một trong hai loại giấy này cho người bệnh
+ Người bệnh sau khi ra viện, trong giấy ra viện có ghi thông tin về thời gian tiếp tục điều trị ngoại trú/thời gian cách ly thì thời gian tiếp tục điều trị ngoại trú/thời gian cách ly thì thời gian nghỉ việc được ác định theo thời gian ghi trong giấy ra viện.
+ Người bệnh sau khi ra viện, trong giấy ra viện không ghi thời gian tiếp tục điều trị ngoại trú nhưng người bệnh phải cách ly thì thời gian nghỉ việc được xác định theo thời gian cách ly
Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!