- 1. Điều khiển máy xúc làm chết người thì phạm tội gì ?
- 2. Phân tích vụ tai nạn giữa xe cứu hỏa và xe khách ?
- 3. Vô ý gây tai nạn chết người có được giảm án tù ?
- 3.1 Các yếu tố cấu thành tội giết người là gì ?
- 3.2 Các tình tiết giảm nhẹ là như thế nào ?
- 3.3 Khi nào thì được hưởng án treo ?
- 4. Đi đúng luật gây tai nạn chết người có phải bồi thường ?
- 5. Trách nhiệm khi gây tai nạn chết người rồi bỏ trốn ?
1. Điều khiển máy xúc làm chết người thì phạm tội gì ?
Tuy nhiên, anh Nam không có chứng chỉ lái máy xúc và không có hợp đồng lao động bằng văn bản. Trong quá trình thi công, anh Nam điều khiển máy xúc không nhìn thấy anh Đại ở phía sau gầu xúc nên đã làm gầu xúc va vào người anh Đại dẫn đến anh Đại bị chết. Tại thời điểm xảy ra vụ việc, anh Dũng không có mặt tại hiện trường. Vậy:
1. hành vi của anh Nam phạm tôi gì?
2. Anh Dũng có phạm tội không?
Xin cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn sẽ được giải đáp như sau:
1. Anh Nam là người trực tiếp điều khiển máy xúc làm anh Đại chết. Hành vi của anh Nam đã vi phạm những quy tắc khi lái máy xúc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người. Anh Nam có lỗi vô ý do cẩu thả, anh đã không nhìn thấy anh Đại ở phía trước mặc dù phải nhìn được. Tuy nhiên, quy tắc an toàn khi lái máy nâng không đòi hỏi chủ thể có trách nhiệm cao trong việc tuân thủ nên anh Nam đã phạm tội vô ý làm chết người theo quy định tại Điều 128 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Điều 128. Tội vô ý làm chết người
1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Anh Dũng là giám đốc công ty xây dựng A, là người phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn lao động. Tuy nhiên, anh Dũng lại vi phạm quy tắc chung bảo đảm an toàn lao động. Cụ thể là anh đã vi phạm các quy định tuyển dụng công nhân điều khiển thiết bị nâng tại tiểu mục 3.6.4 và 3.6.5 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với thiết bị nâng:
"3.6.4. Công nhân điều khiển thiết bị nâng và công nhân buộc móc tải phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Từ 18 tuổi trở lên;
- Có đủ sức khỏe;
- Được đào tạo về chuyên môn và được huấn luyện, cấp thẻ an toàn theo đúng quy định.
3.6.5. Việc bố trí công nhân điều khiển thiết bị nâng phải có quyết định bằng văn bản của người sử dụng lao động."
Và hậu quả của việc không tuân thủ các quy định trên là người công nhân điều khiển không đủ các điều kiện nêu trên đã làm chết người. Do đó, anh Dũng đã phạm Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người theo quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự:
Điều 295. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người
1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.
2. Phân tích vụ tai nạn giữa xe cứu hỏa và xe khách ?

Luật sư tư vấn trách nhiệm pháp lý khi xảy ra tai nạn giao thông, gọi ngay: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Theo như tôi được biết, vụ việc xảy ra ngày 18/3/2018. Đến nay, cơ quan điều tra vẫn chưa điều tra rõ ràng các tình tiết vụ việc nên việc kết luận ai là chủ thể của tội phạm vẫn còn nhiều khúc mắc. Dựa trên góc độ hiểu biết pháp luật của mình, tôi xin được phân tích như sau:
Thứ nhất, đối với tài xế lái xe khách:
Trường hợp 1: Nếu tài xế xe khách thấy chiếc xe cứu hỏa đang sang làn đường ngược chiều để thi hành nhiệm mà mà vẫn cố ý không nhường đường mà tiếp tục đi trên làn đường của mình thì anh ta phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 :
"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng...."
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là tội cấu thành vật chất, nghĩa là có hậu quả xả ra thì chủ thể phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo tội này. Trong vụ việc vừa rồi, ta thấy được hậu quả xảy ra đó là làm 1 cảnh sát PCCC tử vong, 3 cảnh sát bị thương nặng nhưng chúng ta chưa có kết quả giám định thương tật của cảnh sát này nên anh tài xế có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật HÌnh sự 2015. Khi vụ án được điều tra rõ ràng có thể xuất hiện thêm nhiều tình tiết tăng nặng cho anh, khung hình phạt cao nhất có thể lên đến 15 năm và người phạm tội có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm theo khoản 4 điều này.
Trường hợp 2: Nếu tài xế bị cản trở tầm nhìn do xe đi trước và không thấy đèn báo hiệu ưu tiên đường cho xe cứu hỏa và trong trường hợp khẩn cấp tài xế không thể ứng phó kịp thì tài xế không phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 20 Bộ luật Hình sự 2015:
Điều 20. Sự kiện bất ngờ
Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, trách nhiệm đối với đội cứu hỏa:
Về thẩm quyền: Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ được quyền ưu tiên khi tham gia giao thông và có thể đi vào đường ngược chiều theo điều 22 Luật Giao thông đường bộ 2008:
Điều 22. Quyền ưu tiên của một số loại xe
1. Những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự:
a) Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ;
b) Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường;
c) Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu;
d) Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật;
đ) Đoàn xe tang.
2. Xe quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị hạn chế tốc độ; được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông.
Chính phủ quy định cụ thể tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.
3. Khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, người tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường bên phải để nhường đường. Không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên.
Như vậy, theo quy định của pháp luật, sau khi điều tra xét thấy xe cứu hỏa đã chấp hành đúng những quy định về còi, cờ, đèn...thì xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ đã chấp hành đúng những quy định khi tham gia giao thông đường bộ trên đường cao tốc nên sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn về phía xe khách, chúng ta phải chờ khi có kết quả điều tra, làm rõ các tình tiết vụ án mới có thể kết luận về trách nhiệm hình sự.
Cuối cùng, theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật theo điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Điều 13. Suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!
3. Vô ý gây tai nạn chết người có được giảm án tù ?
>> Luật sư tư vấn về bồi thường tai nạn giao thông, gọi: 1900.6162
Trả lời:
3.1 Các yếu tố cấu thành tội giết người là gì ?
Giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện.
3.2 Các tình tiết giảm nhẹ là như thế nào ?
3.3 Khi nào thì được hưởng án treo ?
Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
4. Đi đúng luật gây tai nạn chết người có phải bồi thường ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Với những thông tin mà bạn cung cấp cho chuyên mục thì mặc dù bạn không dùng chất kích thích khi tham gia giao thông tuy nhiên bạn đã chạy sai làn đường là vi phạm quy định về an toàn giao tông đường bộ. Vì nạn nhân đã chết nên có thể bạn sẽ phải chịu trách nhiêm hình sự theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/04/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC:
4. Về các tình tiết
"gây thiệt hại nghiêm trọng”, "gây hậu quả rất nghiêm trọng”, "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự
4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:
a. Làm chết một người;
b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
Như vậy bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 260 BLHS. Ngoài ra theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm có quy định như sau:
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại, gọi ngay gọi 1900.6162.
5. Trách nhiệm khi gây tai nạn chết người rồi bỏ trốn ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tai nạn giao thông, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Thứ nhất, về việc xin hưởng án treo:
Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bố sung năm 2017 quy định như sau:
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 65. Án treo
1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
"Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;
Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;
c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;
d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.".
Theo như bạn trình bày, ngày 11/10, anh bạn có người điều khiển ô tô gây chết người, trong lúc hoản loạn anh bạn đã bỏ chạy nhưng 2h sau đó đã bị chốt công an bắt lại và tạm giam. Hành vi trên cấu thành tội theo khoản1 điều 202 BLHS và khung hình phạt phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.. Có tình tiết là anh bạn bỏ chạy tuy nhiên là do hoản loạn chứ không nhằm mục đích trốn tội nên không phải tình tiết tăng nặng. Ngoài ra người bị hại có men trong người. Nếu chứng minh được người bị hại có lỗi thì được coi như là tình tiết giảm nhẹ. Và anh bạn phạm tội lần đầu. Do đó, anh bạn có thể xin hưởng án treo.
Thứ hai, về việc bồi thường thiệt hại:
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Theo đó, anh bạn đã gây tai nạn làm chết người nên phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, anh bạn đang là lao động chính trong gia đình, và vợ anh bạn sắp sinh 2 bé sinh đôi. Do đó, đây cũng được coi là một trong những tình thiết để được giảm mức bồi thường.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê