1. Cơ sở pháp lý về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Campuchia

Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia, ký tại Hà Nội ngày 20 tháng 12 năm 2016, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2020.

- Luật Tương trợ tư pháp năm 2007

2. Chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù là gì?

Theo quy định tại Luật Tương trợ tư pháp năm 2007: Người đang chấp hành hình phạt tù có thể được chuyển giao đến nước mà người đó mang quốc tịch hoặc đến nước khác đồng ý tiếp nhận chuyển giao để tiếp tục chấp hành hình phạt tù mà nước chuyển giao đã tuyên đối với người đó.

3. Nghĩa vụ chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Campuchia

Người bị kết án phạt tù có thể được chuyển giao từ lãnh thổ của Bên chuyển giao đến lãnh thổ của Bên nhận theo các quy định của Hiệp định này để thi hành toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã tuyên đối với người đó.

Vì mục đích thực thi Hiệp định này, mỗi Bên phải chỉ định một Cơ quan trung ương. Cơ quan trung ương của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Bộ Công an. Cơ quan trung ương của Vương quốc Căm-pu-chia là Bộ Tư pháp. Mỗi Bên có thể thay đổi Cơ quan trung ương của mình nhưng phải thông báo cho Bên kia về sự thay đổi đó bằng văn bản thông qua kênh ngoại giao ngay khi có thể.

Các Cơ quan trung ương của các Bên phải xử lý các yêu cầu chuyển giao theo các quy định của Hiệp định này và pháp luật của mỗi Bên.

Các Cơ quan trung ương có thể liên hệ, phối hợp trực tiếp với nhau hoặc thông qua kênh ngoại giao khi thực hiện Hiệp định này.

4. Điều kiện chuyển giao người bị kết án phạt tù

Theo Hiệp định này, người bị kết án phạt tù chỉ có thể được chuyển giao với các điều kiện sau đây:

Một là, hành động hoặc không hành động bị áp dụng hình phạt cấu thành tội phạm theo pháp luật Bên nhận hoặc sẽ cấu thành tội phạm nếu được thực hiện trên lãnh thổ của Bên nhận. Điều kiện này không được giải thích để yêu cầu tội phạm đó phải được quy định như nhau trong pháp luật của các Bên;

Hai là, người bị kết án phạt tù là công dân của Bên nhận;

Ba là, vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, người bị kết án phạt tù còn phải chấp hành ít nhất một (01) năm của hình phạt tù. Trong trường hợp đặc biệt, điều kiện này có thể được miễn theo thỏa thuận của các Bên;

Bốn là, bản án đã có hiệu lực pháp luật và không còn bất kỳ thủ tục tố tụng nào đối với người đó đang chờ được tiến hành trên lãnh thổ của Bên chuyển giao;

Năm là, bên chuyển giao và Bên nhận và người bị kết án phạt tù đều đồng ý với việc chuyển giao. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù không đủ năng lực để đồng ý theo pháp luật của Bên chuyển giao thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của người đó.

5. Căn cứ từ chối chuyển giao người bị kết án phạt tù

Theo quy định tại Điều 5 Hiệp định thì các Bên từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Khi có căn cứ cho rằng người được chuyển giao có thể bị tra tấn, trả thù, đối xử hoặc trừng trị tàn bạo hoặc vô nhân đạo tại Bên nhận;

- Việc chuyển giao có thể phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặc các lợi ích thiết yếu khác của một Bên.

6. Thủ tục chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Campuchia

Thủ tục chuyển giao thực hiện theo quy định tại Điều 6 Hiệp định. Cụ thể như sau:

Các Bên phải thông báo cho người bị kết án phạt tù về nội dung cơ bản của Hiệp định này. Nếu người bị kết án phạt tù có nguyện vọng được chuyển giao thì có thể trình bày nguyện vọng đó cho Bên chuyển giao hoặc Bên nhận, một trong các Bên phải thông báo việc này cho Bên kia bằng văn bản.

Yêu cầu chuyển giao có thể do Bên chuyển giao hoặc Bên nhận lập bằng văn bản và bao gồm các thông tin sau:

a) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của người bị kết án phạt tù;

b) Quốc tịch và tình trạng cư trú của người bị kết án phạt tù;

c) Địa điểm và địa chỉ hiện tại của người bị kết án phạt tù.

Khi lập yêu cầu chuyển giao, Bên chuyển giao phải cung cấp cho Bên nhận những thông tin sau đây:

a) Nội dung sự việc là căn cứ cho việc kết án và tuyên hình phạt và luật hiện hành quy định về tội phạm đó;

b) Ngày hình phạt chấm dứt, nếu có, thời gian người bị kết án đã chấp hành hình phạt và bất kỳ quyết định nào về việc giảm án mà người bị kết án được hưởng căn cứ vào thành tích lao động, hạnh kiểm tốt, thời gian giam giữ trước khi xét xử hoặc lý do khác;

c) Một bản sao bản án có chứng thực;

d) Các báo cáo về vấn đề cải tạo, y tế hay xã hội của người bị kết án phạt tù, thông tin về quá trình điều trị của người bị kết án phạt tù tại Bên chuyển giao và khuyến nghị về việc tiếp tục điều trị người đó tại Bên nhận, nếu có;

e) Bản sao hộ chiếu hoặc giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác, nếu có, ảnh chân dung và bản in dấu vân tay (tất cả các ngón) của người bị kết án;

f) Các thông tin bổ sung khác do Bên nhận yêu cầu.

Nếu Bên chuyển giao đề nghị, Bên nhận phải cung cấp cho Bên chuyển giao những thông tin sau đây trước khi chuyển giao:

a) Một tài liệu hay tuyên bố nêu rõ người bị kết án phạt tù đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu tại khoản 2 Điều 4 của Hiệp định này;

b) Bản tuyên bố về hành động hoặc không hành động bị áp dụng hình phạt cấu thành tội phạm theo pháp luật của Bên nhận hoặc sẽ cấu thành tội phạm nếu được thực hiện trên lãnh thổ của Bên nhận;

c) Bản mô tả cách thức mà Bên nhận sẽ thi hành hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án phạt tù;

d) Các thông tin bổ sung khác.

Nếu có yêu cầu, các Bên phải cung cấp cho nhau tối đa thông tin, tài liệu, văn bản có liên quan trước khi gửi yêu cầu chuyển giao hoặc quyết định có đồng ý với việc chuyển giao hay không.

7. Có cần sự đồng ý của người bị kết án phạt tù?

Theo quy định tại Điều 7 Hiệp định:

- Bên chuyển giao phải bảo đảm rằng người bị kết án phạt tù đồng ý với việc chuyển giao một cách tự nguyện và với nhận thức đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc chuyển giao. Thủ tục thể hiện sự đồng ý sẽ do pháp luật của Bên chuyển giao quy định.

- Nếu Bên nhận mong muốn, trước khi chuyển giao, Bên chuyển giao phải tạo điều kiện cho Bên nhận xác minh sự đồng ý của người bị kết án về việc chuyển giao quy định tại khoản 5 Điều 4 của Hiệp định này là tự nguyện với sự hiểu biết đầy đủ về hệ quả pháp lý của việc này thông qua quan chức do Bên nhận chỉ định.

Xem xét lại bản án và đặc xá, đại xá hoặc giảm hình phạt

- Chỉ Bên chuyển giao có quyền xem xét lại bản án.

- Một trong các Bên có thể quyết định việc đặc xá, đại xá hoặc giảm hình phạt theo quy định pháp luật của Bên đó và phải thông báo cho Bên kia về quyết định này ngay khi có thể.

8. Hiệu lực của việc chuyển giao đối với bên nhận

- Các cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận sẽ tiếp tục thi hành hình phạt bằng quyết định của tòa án, quyết định hành chính, nếu có, theo quy định pháp luật quốc gia và phù hợp với các điều kiện được quy định ở Điều 10 của Hiệp định này.

- Phù hợp với các quy định tại Điều 8 của Hiệp định này, việc thi hành hình phạt sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật của Bên nhận và chỉ có Bên đó mới có thẩm quyền ban hành các quyết định thích hợp.

Tiếp tục thi hành hình phạt được quy định tại Điều 10 Hiệp định như sau:

1. Bên nhận phải thi hành hình phạt được tuyên ở Bên chuyển giao.

2. Ngoại trừ các quy định tại khoản 3 Điều này. việc tiếp tục thi hành hình phạt sau khi chuyển giao phải theo quy định của pháp luật và trình tự, thủ tục của Bên nhận.

3. Nếu tính chất hoặc thời hạn của hình phạt đó không tương thích với pháp luật của Bên nhận thì Bên nhận có thể chuyển đổi hình phạt đó cho phù hợp với hình phạt mà pháp luật của mình quy định đối với tội phạm tương tự. Khi chuyển đổi hình phạt, cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận phải căn cứ vào các kết luận về sự kiện của vụ án được thể hiện trong các ý kiến, bản luận tội bản án hoặc hình phạt đã được Bên chuyển giao tuyên. Hình phạt chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn hình phạt mà Bên chuyển giao đã tuyên về tính chất và thời hạn. Khi chuyển đổi hình phạt, cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận không được chuyển đổi hình phạt tù sang hình phạt không tước tự do.

4. Nếu người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên theo pháp luật của Bên nhận thì Bên nhận có thể xử lý với người đó như một người chưa thành niên bất kể địa vị pháp lý của người đó theo pháp luật của Bên chuyển giao.

5. Bên nhận thực hiện việc giảm án hoặc tha tù cho người bị kết án ngay sau khi nhận được thông báo về quyết định của Bên chuyển giao theo quy định tại Điều 8 của Hiệp định này.

6. Các Bên thông báo cho người bị kết án bằng văn bản về bất kỳ hành động hoặc quyết định của Bên chuyển giao hay của Bên nhận theo quy định tại khoản 2 đến khoản 5 của Điều này.

Thông tin về việc thi hành hình phạt 

Bên nhận cung cấp các thông tin liên quan đến việc thi hành hình phạt cho Bên chuyển giao một trong các trường hợp sau đây:

1. Người bị kết án phạt tù được tha tù trước thời hạn có điều kiện:

2. Bên nhận cho rằng việc thi hành hình phạt đã hoàn thành;

3. Bên nhận chuyển đổi hình phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 10 của Hiệp định này;

4. Người bị kết án phạt tù bỏ trốn khỏi nơi giam giữ hoặc chết trước khi chấp hành xong hình phạt;

5. Bên chuyển giao yêu cầu một bản báo cáo.

Chi phí chuyển giao người bị kết án phạt tù

Bên nhận phải chi trả các chi phí sau đây:

a) Chuyển giao người bị kết án phạt tù, trừ chi phí phát sinh hoàn toàn trên lãnh thổ của Bên chuyển giao;

b) Tiếp tục thi hành bản án sau khi chuyển giao.

Tuy nhiên, Bên nhận có thể thu hồi toàn bộ hay một phần chi phí chuyển giao từ người bị kết án phạt tù hoặc các nguồn khác.

Trên đây là từ vấn của chúng tôi về nội dung "Điều kiện và quy trình chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Campuchia". Bạn đọc còn vướng mắc pháp lý nào khác vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng nhất!