1. Quy định về Hội đồng quản trị hợp tác xã

Theo quy định, một hợp tác xã được hiểu là một tổ chức pháp nhân, gồm ít nhất 05 thành viên chính thức tự nguyện thành lập. Những thành viên này cam kết hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh, và tạo ra công việc để đáp ứng các nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội của họ, từ đó đóng góp vào việc xây dựng cộng đồng bền vững. Hợp tác này dựa trên nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ.

Theo Điều 65 của Luật Hợp tác xã 2023, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của hợp tác xã, bao gồm các thành viên như Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên khác do Hội nghị thành lập hoặc Đại hội thành viên bầu. Điều lệ quy định số lượng thành viên Hội đồng quản trị, nhưng ít nhất phải có 03 người và tối đa là 15 người. Đối với các hợp tác xã có vốn đầu tư nước ngoài, tổng số thành viên tham gia trong Hội đồng quản trị không được vượt quá 35% tổng số lượng thành viên.

Về nhiệm kỳ, theo quy định của Điều lệ, nhiệm kỳ tối đa của Hội đồng quản trị là 05 năm. Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số lượng nhiệm kỳ không hạn chế. Quá trình bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị được thực hiện bằng phiếu kín.

Căn cứ vào Điều 66 của Luật Hợp tác xã năm 2023, Hội đồng quản trị có nhiệm vụ như: trình Đại hội thành viên xem xét, thông qua các nội dung thuộc thẩm quyền của Đại hội thành viên; quyết định tổ chức các bộ phận giúp việc, đơn vị trực thuộc của hợp tác xã, và thực hiện nghị quyết của Đại hội thành viên; báo cáo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã. Ngoài ra, Hội đồng quản trị còn có nhiều nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ.

Chủ tịch Hội đồng quản trị được bầu, bãi nhiệm hoặc miễn nhiệm thông qua quy trình phiếu kín, thường tại Hội nghị thành lập hoặc Đại hội thành viên. Người này chịu trách nhiệm trước cả Đại hội thành viên và Hội đồng quản trị về các nhiệm vụ được giao. Chủ tịch thực hiện việc ký kết các văn bản quan trọng như Điều lệ, nghị quyết thành lập hợp tác xã, cũng như các văn bản của Hội nghị thành lập và Đại hội thành viên. Ngoài ra, Chủ tịch còn có trách nhiệm ký các văn bản của Hội đồng quản trị theo quy định của pháp luật và Điều lệ, cũng như thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ.

Trong các tình huống mà Chủ tịch Hội đồng quản trị không thể thực hiện nhiệm vụ, anh/chị phải ủy quyền bằng văn bản cho một thành viên khác để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Điều lệ. Nếu Chủ tịch Hội đồng quản trị mất tích, bị tạm giam, hoặc có các rủi ro pháp lý khác như bị cấm đảm nhiệm chức vụ, không có người để ủy quyền, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ được bầu lại tạm thời như sau:

Hội đồng quản trị sẽ bầu một thành viên còn lại làm Chủ tịch Hội đồng quản trị cho đến khi Đại hội thành viên gần nhất bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị. Trong trường hợp Đại hội thành viên ủy quyền cho Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị, thì Hội đồng quản trị sẽ bầu một thành viên còn lại làm Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Trong các tình huống mà Chủ tịch Hội đồng quản trị cũng là Giám đốc (Tổng giám đốc), anh/chị sẽ phải thực hiện cả nhiệm vụ và quyền hạn của cả hai vị trí theo quy định.

 

2. Điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị hợp tác xã

Để trở thành thành viên của Hội đồng quản trị trong một hợp tác xã, cá nhân cần thỏa mãn các điều kiện sau đây:

- Phải là thành viên chính thức của hợp tác xã hoặc là người được pháp luật hoặc tổ chức ủy quyền đại diện cho thành viên chính thức.

- Không thể đồng thời giữ vị trí thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, kế toán trưởng, hoặc thủ quỹ của cùng một hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã.

- Không được có quan hệ gia đình với bất kỳ thành viên nào khác của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, kế toán trưởng, hoặc thủ quỹ của cùng một hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã.

Do đó, để trở thành thành viên của Hội đồng quản trị trong một hợp tác xã, cá nhân phải tuân thủ ba điều kiện trên đề cập. Ngoài ra, theo quy định, những cá nhân sau đây sẽ không được phép là thành viên của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên:

Những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định, và một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ.

 

3. Miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị

Theo quy định của Điều 63 Luật hợp tác xã năm 2023, Thành viên Hội đồng quản trị có thể bị miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau đây:

- Thành viên Hội đồng quản trị không còn đáp ứng các điều kiện như đã được phân tích trong mục 2 trước đó.

- Thành viên Hội đồng quản trị nộp đơn từ chức và đơn từ chức được chấp thuận.

- Thành viên Hội đồng quản trị bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, gặp khó khăn trong nhận thức và tự chủ hành vi, hoặc trong những trường hợp khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ và hợp đồng lao động.

Sau khi bị miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, Thành viên Hội đồng quản trị vẫn phải chịu trách nhiệm đối với những quyết định mình đã đưa ra trong thời gian giữ chức vụ.

 

4. Quy định về họp Hội đồng quản trị Hợp tác xã

Theo quy định của Điều lệ, Hội đồng quản trị của hợp tác xã họp định kỳ ít nhất mỗi ba tháng một lần. Cuộc họp bất thường của Hội đồng quản trị được tổ chức khi có yêu cầu từ một trong các chủ thể sau: Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), hoặc Trưởng Ban kiểm soát, hoặc ít nhất một phần ba tổng số thành viên Hội đồng quản trị.

Cuộc họp của Hội đồng quản trị được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự. Trong trường hợp không đủ số thành viên tham dự, Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ triệu tập cuộc họp lần thứ hai trong vòng 15 ngày kể từ ngày dự kiến của cuộc họp đầu tiên. Tại cuộc họp này, cuộc họp sẽ được tiến hành nếu có hơn 50% số thành viên Hội đồng quản trị tham dự. Nếu lần triệu tập thứ hai vẫn không đủ số thành viên tham dự, Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ triệu tập Đại hội thành viên bất thường trong vòng 30 ngày kể từ ngày dự kiến của cuộc họp thứ hai. Trong Đại hội thành viên bất thường, Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ báo cáo về việc không tham dự hai cuộc họp trước đó của thành viên Hội đồng quản trị và đề xuất biện pháp xử lý.

Quyết định của Hội đồng quản trị được thông qua theo nguyên tắc đa số, mỗi thành viên có một phiếu biểu quyết có giá trị ngang nhau. Trong trường hợp có số phiếu ngang nhau, nội dung sẽ được thông qua nếu có sự tán thành của Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người được ủy quyền chủ trì cuộc họp.

Cuộc họp của Hội đồng quản trị phải được ghi lại bằng biên bản, có thể ghi âm hoặc ghi hình nếu có yêu cầu từ các thành viên. Biên bản họp phải có chữ ký của chủ tọa và thư ký. Thành viên Hội đồng quản trị có quyền phản đối và ý kiến của họ sẽ được ghi vào biên bản họp. Người ký tên trong biên bản họp chịu trách nhiệm liên đới về tính chính xác và trung thực của biên bản họp.

Trong trường hợp quyết định của Hội đồng quản trị trái với quy định của pháp luật, nghị quyết của Đại hội thành viên, hoặc Điều lệ và gây thiệt hại cho hợp tác xã, các thành viên đồng ý với quyết định này sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân và bồi thường thiệt hại cho hợp tác xã. Tuy nhiên, thành viên phản đối được miễn trừ trách nhiệm và có quyền yêu cầu Tòa án đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định này.

Bài viết liên quan: Chủ nhiệm hợp tác xã là gì? Quy định về xã viên, Ban quản trị hợp tác xã

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị hợp tác xã. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!