Khách hàng: Kính thưa Luật sư, tôi có một số câu hỏi liên quan tới vấn đề bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, trong những điều kiện nào thì khi tài sản gây ra thiệt hại người chủ sở hữu mới chịu trách nhiệm bồi thường (điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra)?

Xin cảm ơn!

1. Bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

Bổ sung nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra: Quy định của Bộ luật dân sự trước không bao quát hết các trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, dẫn tới rất nhiều vụ việc tranh chấp xảy ra liên quan đến tài sản gây ra thiệt hại trên thực tế mà không có cơ sở pháp lý để giải quyết thỏa đáng (ví dụ như trường hợp gia súc, gia cầm phá hoại lúa, hoa màu…).

Để khắc phục, Bộ luật dân sự năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc chung để giải quyết việc bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584:

“Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

Quy định trên đã bao quát được toàn bộ các trường hợp tài sản gây thiệt hại, theo đó, việc giải quyết các vụ việc về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra sẽ áp dụng theo nguyên tắc sau đây:

Một là, nếu thiệt hại do tài sản gây ra thuộc các trường hợp quy định riêng như nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, công trình xây dựng thì áp dụng những quy định cụ thể tại Điều 601, Điều 603, Điều 604 và Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015.

Hai là, đối với những tài sản khác gây thiệt hại mà không được quy định cụ thể thì áp dụng khoản 3 Điều 584 để giải quyết: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

Để cụ thể hơn, sau đây là các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra

2. Điều kiện “có thiệt hại xảy ra ”

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, thiệt hại thường được xác định là những tổn thất về vật chất và những tổn thất về tinh thần.

>> Xem thêm:  Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra ?

Thiệt hại do hành vi gây ra hay do tài sản gây ra cũng đều có thể bao gồm hai yếu tố cấu thành này.

Thiệt hại về vật chất thường có thể được tính toán một cách cụ thể bằng những đơn vị đo lường, do đó những thiệt hại về vật chất do hành vi hay do tài sản gây ra đều được xác định bằng những đơn vị đo lường cụ thể, biểu hiện thông qua những con số cụ thể mà người bị thiệt hại chứng minh.

Tổn thất về tinh thần thường không xác định được một cách cụ thể bằng các đơn vị đo lường. Trước hết, mức bù đắp tổn thất về tinh thần sẽ do các bên thỏa thuận.

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc không đạt được sự thỏa thuận thì mức độ tổn thất về tinh thần sẽ do Hội đồng xét xử xác định phù hợp với từng nhóm đối tượng bị xâm phạm (mức bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm là 100 tháng tiền lương cơ sở, sức khỏe bị xâm phạm là 50 tháng tiền lương cơ sở, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 10 tháng tiền lương cơ sở).

3. Điều kiện về nguyên nhân dẫn đến thiệt hại

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, nguyên nhân dẫn đến thiệt hại chính là hoạt động của tài sản của chủ sở hữu hoặc chủ thể khác. Hoạt động gây thiệt hại của tài sản có thể có liên quan hay không liên quan đến hành vi của con người, nhưng hành vi của con người không có tác động trong việc gây thiệt hại của tài sản. Tức là hoạt động gây thiệt hại của tài sản phải là “hoạt động tự thân”.

Về mặt khái niệm, theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, hoạt động được hiểu là “vận động, cử động”. Với tính cách là “thuộc tính cố hữu của vật chất”, vận động là sự tự thân vận động của vật chất, được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất. Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăng-ghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản:

  • Vận động cơ học (sự di chuyển của các vật thể trong không gian);
  • Vận động vật lý (sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt điện,...);
  • Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp và phân giải các chất); vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường);
  • Vận động xã hội (sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế - xã hội).

Như vậy, trên cơ sở những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vận động, chúng ta có thể nhận thấy rằng vận động bao gồm vận động bên trong (vận động vật lý, vận động hóa học) và vận động bên ngoài (vận động cơ học,...). Theo đó, hoạt động của tài sản cũng có thể là hoạt động diễn ra bên trong cấu tạo vật chất của tài sản hoặc hoạt động diễn ra bên ngoài thế giới tự nhiên của tài sản.

  • Hoạt động bên ngoài của tài sản trong nhiều trường họp là hoạt động tự thân (sự di chuyển của động vật), trong nhiều trường họp lại chịu sự tác động của hành vi con người (xe máy di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác), nếu thiếu tác động của con người thì rất nhiều loại tài sản không có hoạt động bên ngoài.
  • Hoạt động bên trong của tài sản không chịu sự tác động từ hành vi con người mà phụ thuộc vào cấu tạo vật chất (bất động vật), bản tính loài (động vật), không có sự tác động của con người thì hoạt động này vẫn diễn ra một cách liên tục, và đó chính là sự vận động của một dạng vật chất cụ thể, là phương thức tồn tại của vật chất.

Quá trình hoạt động của tài sản dù là tự thân hay chịu sự tác động của con người thì đều có sự tác động qua lại với môi trường xung quanh. Sự tác động này có thể là sự tác động về mặt cơ học (sự va chạm của tài sản với tài sản khác, với con người,...), sự tác động về mặt vật lý hoặc hóa học (chất cháy phản ứng với môi trường dẫn đến tự cháy, chất nổ trong điêu kiện môi trường thuận lợi có thể tự phát nổ,...). Sự tác động của tài sản có thể gây ra những thiệt hại cho con người cũng như môi trường xung quanh.

Qua phân tích ở trên chúng ta nhận thấy, sự hoạt động của tài sản có thể là hoạt động tự thân, cũng có thể là hoạt động chịu sự tác động của con người. Tất cả những hoạt động này đều có thể gây ra thiệt hại mà bản thân con người có thể nhận thức hoặc không thể nhận thức được.

>> Xem thêm:  Hiện nay trong thực tiễn còn tồn tại vấn đề “xác định nhầm gia cầm là súc vật" và xác định cả “lỗi của súc vật” không?

Nếu hoạt động tự thân tài sản mà gây ra thiệt hại thì thiệt hại đó là do tài sản gây ra. Trong nhiều trường hợp, hoạt động tự thân gây thiệt hại của tài sản cũng chịu sự ảnh hưởng từ hành vi của con người. Tuy nhiên, sự tác động của hành vi con người vào tài sản chỉ có vai trò trong việc quyết định không gian mà tài sản gây ra thiệt hại là ở đâu (việc di chuyển tài sản từ địa điểm này đến địa điểm khác làm thay đổi vị trí tài sản gây thiệt hại) mà không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Nếu sự tác động của hành vi của con người vào tài sản mà dẫn đến thiệt hại (ví dụ như điều khiển xe gắn máy từ vị trí này đến vị trí khác mà vượt quá tốc độ cho phép gây ra thiệt hại) thì đó là hành vi gây thiệt hại mà không phải tài sản gây thiệt hại, tài sản chỉ là vật trung gian để chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại.

4. Điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại

Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ sản sinh ra nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. Trong mối quan hệ này, hoạt động của tài sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, thiệt hại là hậu quả tất yếu của hoạt động của tài sản. Tuy nhiên, sự hoạt động của tài sản được coi là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại phải là hoạt động tự thân của tài sản, tức là không chịu sự tác động của con người.

Thông thường, hoạt động của tài sản thường gắn liền với hành vi của con người. Như đã phân tích ở phần trên, hoạt động của tài sản bao gồm hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài. Con người chỉ có thể cảm nhận và quan sát được hoạt động bên ngoài của tài sản, và đương nhiên, hoạt động bên ngoài của tài sản thường gắn với hành vi sử dụng của con người (xe máy chuyển động thông qua hoạt động sử dụng của chủ thể nhất định) hoặc chịu sự kiểm soát của con người (sự di chuyển của súc vật được chủ sở hữu, người chiếm hữu giám sát).

Lẽ đương nhiên, tài sản chỉ gây thiệt hại khi chúng đang hoạt động. Tức là thường thì khi tài sản gây thiệt hại, chủ sở hữu hoặc chủ thể khác đang sử dụng hoặc kiểm soát sự hoạt động của tài sản. Hơn nữa, khi tài sản gây thiệt hại, người đang quản lý, đang sử dụng có thể bị coi là có lỗi trong việc quản lý, sử dụng tài sản.

Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến thiệt hại không xuất phát từ sự vi phạm của người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản, mà bắt nguồn từ hoạt động của tài sản. Nếu không có sự tác động của tài sản thì không có thiệt hại xảy ra. Trong trường hợp, nguyên nhân dẫn đến thiệt hại không bắt nguồn từ hoạt động của tài sản mà từ sự vi phạm của người đang sử dụng tài sản (ví dụ lái xe vượt quá tốc độ gây thiệt hại) thì đây là trường họp hành vi gây thiệt hại mà không phải tài sản gây thiệt hại. Hoạt động của tài sản (nếu có) cũng không được coi là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại.

Như vậy, chỉ khi hoạt động tự thân của tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại thi đó mới là mối quan hệ nhân quả mà chúng ta xem xét trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Nếu hành vi của con người tác động làm cho tài sản gây ra thiệt hại thì mối quan hệ này là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, và đó chính là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra.

Qua những phân tích ở trên cho thấy, trong trường hợp tài sản gây thiệt hại vẫn có thể tồn tại hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản. Tuy nhiên, hành vi đó chỉ là hành vi có liên quan mà không phải là nguyên nhân của thiệt hại. Nếu xét về mức độ ảnh hưởng của hành vi trái pháp luật trong trường hợp tài sản gây thiệt hại thì hành vi đó là điều kiện, còn hoạt động tự thân của tài sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Hành vi vi phạm quy định về quản lý chỉ tạo ra một cơ hội để tài sản có thể gây thiệt hại chứ không có tính quyết định thiệt hại có xảy ra hay không.

Ví dụ: Ông A và ông B đều buộc trâu ở cột điện đầu làng, nhưng con trâu nhà ông A thì nằm một chỗ còn con trâu nhà ông B lại đi lại xung quanh cột điện. Khi c đi qua, con trâu nhà ông B húc c ngã gẫy tay. Trong trường hợp này, hành vi của ông A và ông B cùng vi phạm quy định về quản lý tài sản, nhưng chỉ có ông B phải bồi thường vì con trâu của ông gây thiệt hại cho C.

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thực tiễn về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ?

5. Điều kiện về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

Trong khoa học pháp lý dân sự Việt Nam hiện nay, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Trong đó, các quan điểm đưa ra hầu hết chỉ tồn tại mâu thuẫn xoay quanh việc xác định lỗi có phải là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra hay không.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, “căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường theo hướng không dựa trên cơ sở lỗi như trong quy định của Bộ luật Dân sự trước kia”. Để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra chỉ cần 3 điều kiện sau đây:

  • Có thiệt hại thực tế xảy ra;
  • Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra.

=> Đây là quan điểm của những người đi theo nền tảng lý luận của học thuyết trách nhiệm khách quan (trách nhiệm nghiêm ngặt). Theo đó, khi tài sản gây thiệt hại, người bị thiệt hại không cần chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản mà chỉ cần chứng minh có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại cho mình là có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Quan điểm thứ hai cho rằng lỗi là cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói riêng.

Theo tác giả Nguyễn Mạnh Bách cho rằng:

Trách nhiệm của chủ sở hữu cây cối lệ thuộc vào hai điều kiện:

  • Sự thiệt hại phải do cây cối đổ, gãy gây ra;
  • Người bị thiệt hại phải chứng minh rằng việc đổ, gãy xảy ra là do chủ sở hữu thiếu chăm sóc tu bổ cây cối, tức là do một lỗi của chủ sở hữu.

=> Quan điểm trên phù hợp với học thuyết cổ điển, theo đó lỗi là một điều kiện bắt buộc phải chứng minh khi tài sản gây ra thiệt hại. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc nếu không có lỗi của chủ sở hữu, của người chiếm hữu, sử dụng tài sản thì người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Vụ việc thực tế về việc xác định giữa trường hợp "súc vật gây thiệt hại" với "hành vi gây thiệt hại có liên quan đến súc vật"

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì ai chịu trách nhiệm bồi thường?

Trả lời:

“Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”. 

(khoản 3 điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015)

Câu hỏi: điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra gồm mấy điều kiện?

Trả lời:

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra gồm 4 điều kiện:

- Điều kiện “có thiệt hại xảy ra ”;

- Điều kiện về nguyên nhân dẫn đến thiệt hại;

- Điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại;

- Điều kiện về yếu tổ lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.

Câu hỏi: Điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại thể hiện như thế nào?

Trả lời:

Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ sản sinh ra nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. Trong mối quan hệ này, hoạt động của tài sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, thiệt hại là hậu quả tất yếu của hoạt động của tài sản. Tuy nhiên, sự hoạt động của tài sản được coi là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại phải là hoạt động tự thân của tài sản, tức là không chịu sự tác động của con người.