1. Thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên là gì?
Hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên là sự phân loại thể hiện cấp bậc, trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của người giáo viên trong lĩnh vực giáo dục. Các hạng chức danh này được xác định dựa trên các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và các Bộ/ Ngành liên quan:
CDNN giáo viên hạng 3 là bậc thấp nhất, áp dụng cho ứng viên trúng tuyển vào nghề giáo viên thông qua kỳ thi viên chức. Đây là bước đầu tiên để giáo viên có thể thăng tiến lên các hạng chức danh cao hơn.
CDNN giáo viên hạng 2 là bậc tiếp theo, có thể thăng chức từ hạng 3. Giáo viên trong hạng này có cơ hội thăng tiến lên hạng 1 nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn đánh giá cao hơn.
Hạng chức danh cao nhất là giáo viên hạng 1, chỉ dành cho những giáo viên đã thăng chức từ hạng 2. Để đạt được hạng chức danh này, giáo viên phải chứng minh được trình độ đào tạo và năng lực chuyên môn xuất sắc hơn so với các hạng khác.
Các hạng CDNN giáo viên này không chỉ thể hiện sự phân cấp và chuyên môn của người giáo viên mà còn là động lực thúc đẩy giáo viên nâng cao trình độ và năng lực để góp phần xây dựng và phát triển chất lượng giáo dục trong xã hội.
Thăng hạng CDNN là vấn đề được rất nhiều người quan tâm sau một khoảng thời gian cống hiến công sức và khả năng lao động, sáng tạo. Thăng hạng CDNN có thể được hiểu là việc viên chức được bổ nhiệm giữ chức danh nghề nghiệp ở hạng cao hơn trong cùng một ngành, lĩnh vực. Việc thăng hạng này không phải được thực hiện tùy tiện mà phải tuân thủ các quy định của pháp luật thông qua việc thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp.
>> Xem thêm: Tiêu chuẩn dự xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức nông nghiệp
2. Giáo viên có bắt buộc phải thăng hạng chức danh nghề nghiệp không?
Hiện nay, theo quy định của Luật Viên chức năm 2010, viên chức có quyền đăng ký thi hoặc xét thăng hạng CDNN nếu đơn vị công lập mà họ đang làm việc có nhu cầu và đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Điều kiện để thăng hạng CDNN giáo viên cũng được quy định cụ thể trong Thông tư 34/2021/TT-BGDĐT về việc thi hoặc xét thăng hạng CDNN cho giáo viên mầm non và phổ thông công lập. Các tiêu chuẩn chung để được đăng ký thi hoặc xét thăng hạng CDNN cao hơn bao gồm:
Một là: Cơ sở giáo dục cần có nhu cầu và được người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý chấp thuận việc cử giáo viên dự thi hoặc xét thăng hạng CDNN.
Hai là: Giáo viên phải có bản đánh giá chất lượng công việc hoàn thành nhiệm vụ tốt trong năm công tác liền kề trước năm đăng ký thi hoặc xét thăng hạng.
Ba là: Đáp ứng các điều kiện về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; không đang hoặc từng bị xử lý kỷ luật trong thời gian thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là: Được bổ nhiệm vào hạng CDNN giáo viên tương ứng phù hợp với vị trí công việc mà giáo viên đang đảm nhiệm.
Năm là: Đáp ứng các tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ.
Tóm lại, có thể kết luận rằng: Việc thăng hạng CDNN không áp dụng đối với tất cả giáo viên và không phải là yêu cầu bắt buộc. Chỉ khi giáo viên đáp ứng đủ những tiêu chuẩn nêu trên, và khi đơn vị quản lý giáo viên có nhu cầu và giáo viên có mong muốn thăng hạng, thì quá trình thi hoặc xét thăng hạng mới được tiến hành. Việc thăng hạng CDNN giáo viên là quy trình được quy định chặt chẽ với mục tiêu đảm bảo giáo viên đáp ứng được các tiêu chuẩn và đạt được trình độ phù hợp với nhu cầu công việc, nghề nghiệp.
>> Tham khảo: Điều kiện thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên từ 30/5/2023
3. Sửa đổi điều kiện thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên các cấp từ 30/5/2023
Ngày 14/4/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư 01/2021/TT-BGDĐT, 02/2021/TT-BGDĐT,... quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/5/2023.
Trong Thông tư, các điều kiện cụ thể về thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp cũng có sự điều chỉnh đáng kể, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với giáo viên mầm non:
Theo Thông tứ 01/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng II phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng III hoặc tương đương từ đủ 09 (chín) năm trở lên (không kể thời gian tập sự), tính đến thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng. Tuy nhiên, trong quy định mới thì thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng III hoặc tương đương chỉ cần từ đủ 03 (ba) năm trở lên (không kể thời gian tập sự) tính đến ngày hết thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng là đã có thể thăng hạng;
Thêm vào đó, viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng I (mã số V.07.02.24) phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng II (mã số V.07.02.25) hoặc tương đương từ đủ 09 (chín) năm trở lên tính đến ngày hết thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng thay vì từ đủ 06 (sáu) năm trở lên theo quy định cũ.
Thứ hai, đối với giáo viên tiểu học:
Đối tượng dự thi hoặc xét thăng hạng chức nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng I (mã số V.07.03.27) phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng II (mã số V.07.03.28) hoặc tương đương từ đủ 06 (sáu) năm trở lên, đồng thời muốn dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng II (mã số V.07.03.28) phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng III (mã số V.07.03.29) hoặc tương đương từ đủ 09 (chín) năm trở lên (không kể thời gian tập sự), tính đến ngày hết thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng. Trước đây, pháp luật cho phép tính đến thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng.
Thứ ba, đối với giáo viên trung học cơ sở:
Để dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II (mã số V.07.04.31), người dự thi phải đã giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng III (mã số V.07.04.32) hoặc tương đương trong khoảng thời gian ít nhất 09 (chín) năm trở lên, không tính thời gian làm tập sự. Cũng giống như vậy, để dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng I (mã số V.07.04.30), người dự thi phải đã giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II (mã số V.07.04.31) hoặc tương đương trong khoảng thời gian ít nhất 06 (sáu) năm trở lên. Mốc thời gian được tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng.
Thứ tư, đối với giáo viên trung học phổ thông:
Tính đến ngày hết thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng, viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông hạng II (mã số V.07.05.14) phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông hạng III (mã số V.07.05.15) hoặc tương đương từ đủ 09 (chín) năm trở lên (không kể thời gian tập sự) và Viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông hạng I (mã số V.07.05.13) phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông hạng II (mã số V.07.05.14) hoặc tương đương từ đủ 06 (sáu) năm trở lên.
4. Xếp lương cho giáo viên tương ứng với hạng chức danh mới như thế nào?
Bộ GDĐT đã thực hiện nghiên cứu và tham vấn ý kiến của các cơ quan liên quan, cũng như lắng nghe ý kiến của hơn 580.000 giáo viên mầm non và phổ thông. Sau đó, Bộ đã quyết định duy trì nguyên tắc xếp lương, trong đó giáo viên sẽ được xếp lương theo hạng chức danh được bổ nhiệm. Điều này nhằm đảm bảo giữ nguyên và tuân thủ chính xác quy định xếp lương tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP. Tuy nhiên, để đơn giản hóa công tác bổ nhiệm và xếp lương, Bộ GDĐT đã sửa đổi và bổ sung một số nội dung trong Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT:
(1) Khi bổ nhiệm từ hạng chức danh nghề nghiệp cũ sang hạng mới tương ứng, chỉ xét 2 tiêu chuẩn duy nhất là trình độ đào tạo và thời gian giữ hạng thấp hơn liền kề. Việc này loại bỏ yêu cầu giáo viên phải cung cấp minh chứng của các tiêu chuẩn khác.
(2) Trong trường hợp giáo viên không đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và thời gian giữ hạng, họ sẽ không bổ nhiệm hạng chức danh thấp hơn liền kề mà tiếp tục giữ nguyên hạng, mã số và hệ số lương hiện đang được xếp theo Thông tư liên tịch số 20/2015/TTLT-BGDĐT-BNV. Sau này, khi giáo viên đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, họ sẽ được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp tương ứng mà không cần phải qua kỳ thi hoặc xét thăng hạng.
Những điều chỉnh và bổ sung như vậy sẽ giúp quá trình bổ nhiệm và xếp lương cho giáo viên được thực hiện một cách dễ dàng hơn, đồng thời tránh việc yêu cầu giáo viên cung cấp quá nhiều minh chứng không cần thiết. Điều này cũng giải quyết vướng mắc trong việc xếp lương cho giáo viên mầm non và đảm bảo thống nhất quy định về thời gian giữ hạng chức danh nghề nghiệp giữa các cấp học, cũng như phù hợp với quy định của Bộ Nội vụ về thời gian giữ ngạch cán sự, chuyên viên và chuyên viên chính.
Chủ đề về Sửa đổi điều kiện thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên các cấp từ 30/5/2023 được Luật Minh Khuê cung cấp qua bài viết trên. Bên cạnh đó, quý khách có thể đọc thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê: Chức danh là gì? Chức danh nghề nghiệp là gì? Nếu gặp khó khăn, quý khách đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi qua hotline: 19006162 hoặc email tư vấn: lienhe@luatminhkhue,vn để được hỗ trợ. Trân trọng ./.