1. Công ước quốc tế về Bảo hộ những Giống Cây trồng Mới (1961) (UPOV)

Công ước quốc tế về Bảo hộ những Giống Cây trồng Mới (1961) cho thấy rằng các bên ký kết tạo lập nên một liên minh quốc tế, gọi là Liên minh UPOV. Mục tiêu của công ước là thừa nhận và đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của người nuôi dưỡng những giống cây trồng mới.

Liên minh quốc tế về bảo vệ các giống cây trồng mới (UPOV) là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở chính tại Geneva (Thụy Sĩ).

UPOV được thành lập bởi Công ước quốc tế về bảo hộ các giống cây trồng mới. Công ước được thông qua tại Paris vào năm 1961 và nó đã được sửa đổi vào các năm 1972, 1978 và 1991.

Sứ mệnh của UPOV là cung cấp và thúc đẩy một hệ thống bảo hộ giống cây trồng hiệu quả, với mục đích khuyến khích sự phát triển của các giống cây trồng mới, vì lợi ích của xã hội.

Các Nhà nước Thành viên phê chuẩn quyền bảo hộ cây trồng phù hợp với các điều khoản của Công ước và theo luật quốc gia mình. Giống như Công ước Pari, các qui tắc quan trọng của Công ước UPOV chia thành ba phạm trù: nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền 12 tháng của qui tắc ưu tiên và một số tiêu chuẩn bảo hộ chung.

 

2. Điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, ta có thể kể đến như:

Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật gồm 38 điều, tạo ra hành lang pháp lí thống nhất trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật của mình.

Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật này đặt ra 3 nguyên tắc cơ bản gồm nguyên tắc đối xử quốc gia,nguyên tắc bảo hộ độc lập và nguyên tắc bảo hộ tự động. Những người được bảo hộ ở đây là các tác giả là công dân của một trong những nước là thành viên Liên hiệp cho các tác phẩm của họ đã xuất bản hay chưa, các tác giả không là công dân của một trong những nước là thành viên Liên hiệp cho những tác phẩm của họ xuất bản lần đầu tiên ở một trong những nước là thành viên Liên hiệp, các tác giả không là công dân của một nước thành viên nhưng có nơi cư trú thường xuyên là một trong những nước là thành viên của Liên hiệp.Thời gian bảo hộ là do pháp luật nước sở tại quy định, tuy nhiên thời bảo hộ không được quá thời hạn quy định tại quốc gia gốc trừ trường hợp pháp luật nước đó có quy định khác.

Ví dụ như theo quy định của pháp luật Việt Nam, thời hạn bảo hộ quyền tác giả là suốt đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời.

Công ước Paris 1883

Công ước Paris 1883 - đây là Công ước quốc tế đa phương đầu tiên quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp.

Mục đích chủ yếu của Công ước Paris 1883 là nhằm xây dựng các điều kiện có lợi cho việc cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là công dân, pháp nhân của nước thành viên này tại lãnh thổ của các nước thành viên khác.

Công ước Paris 1883 áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia. Các nước thành viên phải có nghĩa vụ trong việc bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.Việt Nam đã là thành viên của Công ước.

Hiệp ước hợp tác sáng chế 1970 (PTC)

Hiệp ước hợp tác sáng chế 1970 (PTC) là sự phát triển quan trọng nhất của hợp tác sáng chế trong lĩnh vực sáng chế.

Mục đích của Hiệp ước hợp tác sáng chế 1970 (PTC) này là đơn giản hóa thủ tục cấp văn bằng bảo hộ đối với các tác phẩm sáng chế. Hiện nay, Việt Nam cũng đã là thành viên của Hiệp ước.

Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV)

Theo Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV), các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải công nhận và bảo hộ quyền của nhà tạo giống.

Nguyên tắc bảo hộ của Công ước là nguyên tắc đối xử quốc gia, thời gian bảo hộ là 15 năm. Việt Nam hiện đã là thành viên của Công ước.

=> Ngoài những Công ước ta vừa kể trên, Việt Nam còn là thành viên của một số Công ước như: Công ước toàn cầu về quyền tác giả 1952 (UCC), Công ước Roma 1961, Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp ước quyền tác giả 1996(WCT),…

 

 

3. Điều ước quốc tế song phương về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên

Đối với các điều ước quốc tế song phương về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên; Việt Nam không chỉ là thành viên của các điều ước quốc tế đa phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Việt Nam còn kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương quan trọng về sở hữu trí tuệ với nhiều quốc gia trên thế giới;

Ví dụ điển hình như một số Điều ước quốc tế song phương về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên như sau:

Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ về thiết lập quyền tác giả (BCA)

 Với hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ về thiết lập quyền tác giả (BCA) này, hai bên cam kết bảo hộ các tác phẩm của công dân của nhau trên nguyên tắc áp dụng chế độ đãi ngộ quốc dân. Quyền bảo hộ ở đây bao gồm các quyền tối thiểu, quyền độc quyền sao chép, phân phối, trưng bày, phổ biến công cộng với những hạn chế và ngoại lệ theo tiêu chuẩn của Điều 9 Công ước Berne. Các nghĩa vụ được thực hiện theo quy định trên lãnh thổ quốc gia nào thì theo quy định của luật pháp quốc gia đó.

Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) 

Với Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) tuy là Hiệp định thương mại nhưng lại dành một chương với 18 điều quy định về sở hữu trí tuệ. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) này quy định về nghĩa vụ của các bên kí kết áp dụng các biện pháp được thực thi tại biên giới, biện pháp dân sự và hình sự, bao gồm các biện pháp xử lí hình sự và ngăn chặn theo các chuẩn mực của Hiệp định TRIPS, thực hiện theo quy định của pháp luật quốc gia.

Hiệp định giữa Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Theo Hiệp định giữa Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ này, Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ kĩ thuật từ phía Liên bang Thụy Sỹ. Các đối tượng được bảo hộ trong Hiệp định bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, kể cả chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng và thông tin không được công bố,…

Ngoài ra pháp luật Việt Nam còn các quy định riêng về sở hữu trí tuệ, được ghi nhận trong Bộ luật dân sự năm 2015, luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009...

 

4. Bảo hộ giống cây trồng tại Việt Nam trong tiến trình Việt Nam gia nhập WTO  

Việt Nam đã chính thức nộp đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào đầu năm 1995. Tại thời điểm này hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam còn rất nhiều điểm chưa tương thích với Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ –TRIPS. Mặc dù Phần VI- Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ của Bộ luật dân sự năm 1995 đã tạo ra những bước tiến đáng kể trong pháp luật điều chỉnh về quyền sở hữu trí tuệ của nước ta, nhưng giống cây trồng – một trong những đối tượng được đề cập trong nội dung Hiệp định TRIPS vẫn chưa được pháp luật điều chỉnh. Phải đợi đến khi Luật sở hữu trí tuệ 2005 được ban hành, đối tượng Giồng cây trồng lần đầu tiên mới được điều chỉnh bởi một văn bản luật (trước đó chỉ được đề cập trong các văn bản dưới luật).

Xét trên phương diện lịch sử hình thành và phát triển, “Giống cây trồng” có thể được xếp vào thế hệ sinh sau đẻ muộn trong gia đình các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Phải mãi đến năm đầu thập niên 60, thế kỷ XX, cùng với việc thông qua Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng (UPOV) tại Hội nghị các ngoại trưởng tổ chức tại Paris tháng 12 năm 1961, quyền sở hữu trí tuệ của những người sáng tạo giống cây trồng lần đầu tiên mới được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo hộ trên phạm vi thế giới. Các quốc gia đã nhanh chóng nhận ra rằng, hoạt động sáng tạo giống cây trồng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn cả đối với việc bảo vệ môi trường. Do vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đã trở thành một cam kết bắt buộc mà tất cả các nước cần phải thực hiện trước khi tiến hành gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO. Khoản 3 Điều 27, Hiệp định TRIPS quy định: “Các Thành viên phải bảo hộ giống cây trồng bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào”.

Thực hiện Chương trình hành động về sở hữu tri tuệ với mục tiêu nhằm làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ  của Việt Nam phù hợp  hoàn toàn với Hiệp định TRIPS được khởi xướng vào đầu năm 2000, ngày 20 tháng 4 năm 2001, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 13/2001/NĐ-CP quy định về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới. Theo đó, giống cây trồng mới sẽ được bảo hộ theo một hệ thống riêng biệt do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp quản lý. Hệ thống bảo hộ giống cây trồng mới sau đó đã tiếp tục hoàn thiện và được quy định mới trong phần IV – Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Bảo hộ giống cây trồng theo một hệ thống riêng biệt đang là một xu thế có tính chất phổ biến của các quốc gia trên thế giới. Thực vậy, quy trình để tạo ra một giống cây trồng mới thường tiêu tốn rất nhiều thời gian và chi phí tiền bạc. Trong khi đó, việc sao chép giống cây trồng lại có thể được thực hiện rất nhanh chóng theo nhiều cách thức khác nhau như chiết cây, giâm cây, gieo hạt… Mặc dù hệ thống bảo hộ độc quyền sáng chế có rất nhiều lợi thế trong việc chống lại các khả năng vi phạm tiềm tàng đối với giống cây trồng mới, đảm bảo cho nhà tạo giống cây trồng có đủ thời gian cần thiết để khai thác lợi nhuận và tái đầu tư cho các hoạt động sáng tạo của mình.

Có thể nó Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, về mặt hình thức, Việt Nam bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu của Hiệp định TRIPS. Tuy nhiên, để có thể vận hành hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng tại Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ và thực sự hiệu quả về bảo hộ giống cây trồng mới. Mặc dù, Ban soạn thảo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã có những nỗ lực rất lớn trong việc nhằm cụ thể hóa các quy định của luật tới mức có thể áp dụng trong thực tế ngay sau khi ban hành mà không cần đến các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, thế nhưng, các nội dung thiết yếu như nội dung các tài liệu cần có trong đơn, thời hạn thẩm định nội dung đơn, lệ phí duy trì hiệu lực…. chưa được pháp luật quy định rõ. Bên cạnh đó, việc bảo hộ song trùng theo cơ chế bảo hộ sáng chế và cơ chế bảo hộ giống cây trồng mới đối với cây trồng biến đổi gen cũng chưa được giải quyết. Bên cạnh đó, chúng ta chưa xây dựng được cơ sở vật chất cũng như chưa đào tạo được đội ngũ nhân lực cần thiết cho việc đăng ký, xét nghiệm, và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới.
 

5. Đối tượng giống cây trống theo pháp luật Việt Nam 

Giống cây trồng được bảo hộ theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 là: giống cây được sáng tạo hoặc được phát triển và phát triển, thuộc danh mục giống cây trồng được bảo hộ do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành, tính ổn định và có tên gọi phù hợp.

Theo định nghĩa nói trên, có thể hiểu chủ thể được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới bao gồm hai đối tượng chính:

- Đối tượng thứ nhất là người sáng tạo ra giống cây trồng mới. Đây là những chủ thể đã tạo ra giống cây trồng mới, chưa từng tồn tại trước đó trong thế giới tự nhiên bằng những phương tiện kỹ thuật nhất định. Pháp luật Việt Nam không đặt ra bất kỳ một giới hạn cụ thể nào đối với hình thức cũng như trình độ kỹ thuật trong việc thực hiện quy trình tạo giống cây trồng được bảo hộ. Đó có thể là thao tác kỹ thuật  đơn giản nhất như lựa chọn và lọc giống cây trồng cho đến những công nghệ phức hiện đại và phức tạp nhất hiện nay như công nghệ chuyển gen, cấy ghép gen…

Đối tượng thứ hai là người phát hiện và phát triển giống cây trồng. Đây được coi là điểm khác biệt chủ yếu tạo nên một trong những đặc trưng cơ bản trong tiêu chuẩn bảo hộ giống cây trồng so với tiêu chuẩn bảo hộ độc quyền sáng chế. Theo quy định của pháp luật về bảo hộ sáng chế, phát minh (phát hiện) là một trong những đối tượng bị loại trừ khả năng được bảo hộ. Tuy nhiên, trong  hệ thống pháp luật về bảo hộ giống cây trồng, việc phát hiện ra giống cây trồng mới tồn tại sẵn có trong tự nhiên vẫn có thể được coi là một trong những nguồn căn bản đóng góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học và cần phải được bảo hộ. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản hướng dẫn chính thức giải thích cụ thể về khái niệm “phát hiện và phát triển giống cây trồng”. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào bản chất pháp lý nói chung của quyền sở hữu trí tuệ, có thể khẳng định rằng, một người chỉ có công đơn thuần trong việc phát hiện ra giống cây trồng mới sẽ không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Do vậy, thuật ngữ “phát triển” được sử dụng ở đây như là một sự bổ sung cần thiết, là điều kiện đủ để được Nhà nước xem xét bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đã được phát hiện. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh thêm khái niệm “phát triển” không được dùng để chỉ những hoạt động cải tiến hoặc cải tạo đối với các tính trạng di truyền cơ bản của giống cây trồng mà chỉ là những tác động tạo nên sự thay đổi nhất định trong quá trình nhân giống của giống cây trồng.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).