>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Luật sư tư vấn:
1. Điều ước quốc tế là gì?
Theo Công ước viên năm 1969, Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.
Theo Luật Điều ước quốc tế 2016, điều ước quốc tế được định nghĩa là “thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.” Như vậy, có ba điều kiện quan trọng mà một văn bản phải đáp ứng để được xem là điều ước quốc tế theo pháp luật Việt Nam, bao gồm điều kiện về đối tác ký kết, nội dung về quyền, nghĩa vụ của Việt Nam và quy trình ký kết.
Quy định của pháp luật Việt Nam về sử dụng Điều ước quốc tế?
Điều ước quốc tế là văn bản thoả thuận giữa Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam và bên ký kết nước ngoài. Cụ thể, bên ký kết nước ngoài được định nghĩa theo Luật Điều ước quốc tế 2016 là “quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác được công nhận là chủ thể của pháp luật quốc tế.” Mặc dù Luật Điều ước quốc tế 2016 không có bất kỳ định nghĩa hoặc giải thích nào về “chủ thể khác được công nhận là chủ thể của của pháp luật quốc tế,” cần phải hiểu Luật Điều ước quốc tế 2016 dẫn chiếu đến chủ thể của công pháp quốc tế chứ không phải là tư pháp quốc tế. Do vậy, các chủ thể của tư pháp quốc tế như các công ty hoạt động quốc tế không phải là “chủ thể của pháp luật quốc tế.” Ví dụ, khi Chính phủ Việt Nam vay nợ của các ngân hàng quốc tế thì thỏa thuận vay nợ ký giữa Chính phủ Việt Nam và các ngân hàng quốc tế đó không phải là điều ước quốc tế của Việt Nam.
Theo Luật Điều ước quốc tế 2016, điều ước quốc tế phải có quy định “làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.” Nếu văn bản thỏa thuận giữa Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam và bên ký kết nước ngoài không có các quy định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của Việt Nam thì văn bản thỏa thuận đó sẽ không được xem là điều ước quốc tế theo pháp luật Việt Nam. Ví dụ, các thỏa thuận có tính chất như bản ghi nhớ không phải là điều ước quốc té của Việt Nam cho dù đáp ứng các điều kiện khác.
Để một điều ước quốc tế trở thành nguồn pháp luật Việt Nam về hợp đồng, điều ước quốc tế đó phải có hiệu lực ràng buộc đối với Việt Nam thông qua việc được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Điều ước quốc tế 2016 quy định một quy trình để người có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế hoặc trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế. Trong một số trường hợp, điều ước quốc tế cần được Quốc hội thông qua nếu có quy định trái với quy định của luật hoặc nghị quyết của Quốc hội.
2. Đặc điểm của điều ước quốc tế:
Bao gồm: Chủ thể, nội dung, hình thức của điều ước quốc tế.
2.1. Chủ thể của Điều ước quốc tế
Chủ thể của điều ước quốc tế phải là các chủ thể của Luật quốc tế, bao gồm: Quốc gia, tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của Luật quốc tế.
2.2. Hình thức của Điều ước quốc tế
– Điều ước quốc tế tồn tại chủ yếu dưới hình thức văn bản. Trước đây, trong quan hệ quốc tế có sự xuất hiện của một số điều ước quân tử (bất thành văn), tuy nhiên các điều ước loại này hiện nay hầu như không còn tồn tại trong quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế.
– Tên gọi của điều ước quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, phụ thuộc vào phạm vi và nội dung của điều ước, mà điều ước quốc tế có thể có một số tên gọi khác nhau như: Hiệp ước, công ước, định ước, nghị định thư, hiệp định…
– Kết cấu của điều ước quốc tế bao gồm các phần: Lời nói đầu, nội dung chính, phần cuối cùng, phụ lục.
– Ngôn ngữ của điều ước quốc tế: Thông thường, điều ước quốc tế song phương thường được soạn thảo bằng ngôn ngữ của cả 2 bên (trừ khi có thỏa thuận khác). Riêng đối với các điều ước quốc tế đa phương phổ cập thường được soạn thảo bằng các ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên hợp quốc đó là: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ả Rập.
2.3. Nội dung của Điều ước quốc tế
Nội dung của điều ước quốc tế là những nguyên tắc, quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên kí kết, có giá trị pháp lí ràng buộc đối với các bên. Những nguyên tắc, quy phạm này phải được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là bình đẳng và tự nguyện.
Phân loại Điều ước quốc tế, gồm:
- Căn cứ vào số lượng các bên tham gia kí kết: Điều ước quốc tế đa phương, điều ước quốc tế song phương.
- Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh: Điều ước về chính trị, điều ước về kinh tế, điều ước quốc tế về quyền con người, điều ước quốc tế về các lĩnh vực hợp tác…
- Căn cứ loại chủ thể tham gia điều ước: Điều ước quốc tế được kí kết giữa các quốc gia, điều ước quốc tế được kí kết giữa quốc gia – tổ chức quốc tế, điều ước quốc tế được kí kết giữa tổ chức quốc tế – tổ chức quốc tế, điều ước quốc tế được kí kết giữa quốc gia, tổ chức quốc tế, …
- Căn cứ vào phạm vi áp dụng: Điều ước song phương, điều ước khu vực, điều ước phổ cập.
>> Xem thêm: Hiệu lực của điều ước quốc tế là gì? Quy định về hiệu lực của điều ước quốc tế
3. Một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên:
3.1 Công ước Vienna 1980
Hiện nay, có thể nói Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là điều ước quốc té liên quan đến hợp đồng quan trọng nhất mà Việt Nam là thành viên, về nguyên tắc, phạm vi áp dụng của Công ước Vienna 1980 bao gồm “hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau.” Nói cách khác, các quy định của Công ước Vienna 1980 chỉ áp dụng đối với họp đồng mua bán hàng hoá giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài (hay hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) và không áp dụng đối với họp đồng mua bán hàng hoá giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với nhau.
Một điểm Cần lưu ý là Công ước Vienna 1980 có thể được áp dụng trực tiếp với tư cách là luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trừ khi các bên thỏa thuận không áp dụng Công ước Vienna 1980. Nếu Công ước Vienna 1980 được áp dụng, pháp luật hợp đồng của Việt Nam không được áp dụng, trừ các quy định về hình thức của hợp đồng được Việt Nam bảo lưu khi trở thành thành viên của Công ước Vienna 1980. Nhìn chung, Công ước Vienna 1980 không yêu cầu hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập bằng văn bản hay tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào khác về hình thức của họp đồng. Trong khi đó, theo Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp luật có quy định, hợp đồng sẽ phải được lập bằng văn bản, công chứng, chứng thực và/hoặc đăng ký.
Xét về mặt nội dung, một số quy định của Công ước Vienna 1980 có sự khác biệt đáng kể so với các quy định của pháp luật Việt Nam. Công ước Vienna 1980 có nhiều quy định cố gắng hài hòa các nguyên tắc hợp đồng của hệ thống dân luật và hệ thống thông luật. Tại thời điểm hiện nay, việc áp dụng Công ước Vienna 1980 còn tương đối hạn chế và các cơ quan xét xử vẫn đang trong quá trình làm quen dần với các quy định của Công ước Vienna 1980. Dường như Công ước Vienna 1980 chưa được áp dụng trong thực tiễn xét sử tranh chấp tại tòa án nhưng đã bước đầu được áp dụng trong thực tiễn xét xử tại trọng tài. Việc gia nhập Công ước Vienna 1980 về lâu dài sẽ dẫn đến áp lực cần có các thay đổi tương ứng trong pháp luật về hợp đồng tại Việt Nam cũng như các cơ quan xét xử cần quen thuộc hơn với các quy định của Công ước Vienna 1980.
Các quy định khác biệt của Công ước Vienna 1980 có thế được xem xét áp dụng để làm rõ các vấn đề tương tự chưa được quy định cụ thể trong pháp luật về hợp đồng. Ví dụ, khái niệm “cách hiểu của một người bình thường, có cùng kiến thức và nghề nghiệp trong hoàn cảnh tương tự” không tồn tại trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Công ước Vienna 1980 quy định về khái niệm này để giúp giải thích ý chí của các bên trong trường hợp hợp đồng quy định không rõ ràng về một vấn đề. Công ước Vienna 1980 cũng quy định rõ ràng hơn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng khi làm phát sinh quyền hủy bỏ hợp đồng, đặc biệt là cho phép ngoại lệ về khả năng lường trước được hậu quả của bên vi phạm - một vấn đề vốn không tồn tại trong pháp luật về họp đồng của Việt Nam. Cuối cùng, Công ước Vienna 1980 có các quy định về cách tính bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Sự khác biệt giữa quy định về bồi thường thiệt hại của Công ước Vienna 1980 và của pháp luật Việt Nam liên quan đến phạm vi và giới hạn của thiệt hại. Cụ thể là, theo pháp luật Việt Nam, thiệt hại giới hạn ở thiệt hại thực tế và trực tiếp, còn theo Công ước Vienna 1980, thiệt hại giới hạn ở thiệt hại mà bên vi phạm đã hoặc đã phải lường trước tại thời điểm giao kết hợp đồng và có thể bao gồm thiệt hại gián tiếp.
3.2 Các điều ước quốc tế khác
Bên cạnh Công ước Vienna 1980, các điều ước song phương và đa phương của Việt Nam cũng có các quy định liên quan đến hợp đồng. Điển hình có thể kể đến như quy định về bồi thường thiệt hại và xử lý tranh chấp trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (TRIPS) năm 1994 và Hiệp định về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000. Cụ thể, Hiệp định TRIPS 1994 cho phép các bên trong họp đồng được thoả thuận ước tính khoản bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trước khi vi phạm đó xảy ra. Như vậy, khi xảy ra hành vi vi phạm, bên vi phạm sẽ chỉ phải bồi thường một khoản tiền như các bên đã thỏa thuận ước tính theo hợp đồng, thay vì phải là thiệt hại thực tế, trực tiếp từ hành vi vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ cũng công nhận khái niệm thiệt hại ước tính. Nhìn từ góc độ pháp luật về hợp đồng Việt Nam, khái niệm thiệt hại ước tính không được quy định một các rõ ràng.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.