NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Từ nghiên cứu đến triển khai:
1.1 Khái quát chung:
Để gia tăng sự đóng góp của hoạt động nghiên cứu trong khu vực công và nghiên cứu trong trương đại học cho sự phát triển công nghiệp và kinh tế, các nhà hoạch định chính sách quốc gia cần hành động theo hướng đưa giới doanh nhân và giới khoa học xích lại gần nhau hơn. Việc chuyển giao công nghệ từ các trương đại học cho ngành công nghiệp sẽ được tạo điều kiện tốt hơn nếu các trương đại học yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế và li-xăng các kết quả nghiên cứu do quỹ công tài trợ của họ cho ngành công nghiệp. Hoạt động li-xăng bằng độc quyền sáng chế như trên do trường đại học thực hiện mang lại cả sự khuyến khích và cơ sở lành mạnh cho các công ty tư nhân tiến hành đầu tư mạo hiểm gắn liền với sự biến động của công nghệ mũi nhọn, với tiềm năng thị trường chưa được kiểm chứng, từ những dự án trong phòng thí nghiệm đến những sản phẩm ngoài thị trường, về mặt ý nghĩa đòn bẩy của các khoản tài trợ công, các khoản đầu tư tiếp theo do các công ty thuộc khu vực tư nhân sẽ thực hiện trong phát triển công nghệ là rất quan trọng, bởi vì thường thì một công ty phái đầu tư nhiều hơn từ 50 đến 100 lần phí li-xăng ban đầu trả cho trường đại học để phát triển công nghệ đó. Với sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và chu kỳ sống của sản phẩm ngắn lại, các công ty ngày càng hướng tới các trường đại học để có được những công nghệ mới sử dụng trong việc nhanh chóng tạo ra sản phẩm mới.
Người ta có thể lập luận rằng các kết quả thu được từ các dự án do quỹ công tài trợ tại khu vực công hoặc trường đại học nên được khu vực công khai thác thay vì khu vực tư nhân. Tuy nhiên, sự thực là nếu không có sự khuyến khích mạnh mẽ của sở hữu tư nhân và lợi ích thương mại thì sẽ có rất ít nỗ lực lớn để thương mại hoá các sáng chế mới. Đồng thời, các sự lựa chọn này không loại trừ lẫn nhau; cả hai con đường đều có thể đi và sự tham gia của khu vực tư nhân có thể có hiệu quả lớn hơn trong một số hoàn cảnh so với những hoàn cảnh khác, vấn đề thực sự là liệu các trường đại học và khu vực công có nhận được khoản đền bù thoả đáng dưới hình thức tiền thù lao hoặc các hình thức thanh toán khác để đổi lại việc li-xăng hoặc chuyển giao hay không. Những li- xăng hoặc chuyển giao đó không phải là "cho không" mà thường đi kèm với dòng thu nhập đáng kể tới viện nghiên cứu. Vì vậy, một số nước đã ban hành pháp luật để tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ từ các trường đại học và viện công cho khu vực tư nhân, bằng cách cho phép các trường đại học và viện công được nhận bằng độc quyền sáng chế và cấp li-xăng độc quyền hoặc không độc quyền cho các hãng tư nhân quan tâm đến việc thương mại hoá công nghệ được cấp bằng độc quyền sáng chế.
1.2 Ví dụ ở các nước:
Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Đạo luật Bayh-Dole năm 1980 được soạn thảo sau kết quả của một công trình nghiên cứu và tranh luận liên quan đến chính sách bằng độc quyền sáng chế của chính phủ Hoa Kỳ trong những năm 1960 và 1970. Tại thời điểm đó, không có chính sách ở cấp chính phủ về vấn đề quyền sở hữu đối với sáng chế được tạo ra khi sử dụng ngân quỹ liên bang. Đạo luật này nhằm hai mục đích: (1) cho phép các trường đại học, công ty phi lợi nhuận và doanh nghiệp nhỏ được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế và thương mại hoá các sáng chế được ngân sách liên bang tài trợ do họ tạo ra; và (2) cho phép các cơ quan liên bang cấp li-xăng công nghệ của mình để tạo ra sự khuyến khích hơn nữa cho các doanh nghiệp. Trước khi thông qua Đạo luật này, các chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều hạn chế hơn đối với li-xăng; thực vậy, đã xuất hiện sự do dự khi cấp li-xãng cho các công ty thương mại. Trên thực tế, vào thời điểm đó hoạt động li-xăng đối với các bằng độc quyền sáng chế thuộc sở hữu của chính phủ (5%) thấp hơn nhiều so với li-xăng đối với bằng độc quyền sáng chế thuộc sở hữu của khu vực tư nhân (30%). Đạo luật này đã tăng cường mới liên kết giữa các trường đại học và ngành công nghiệp trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu.
Là nước có truyền thống hỗ trợ cho các sáng kiến của khu vực tư nhân, Hoa Kỳ đã tìm được cách đưa giải hàn lâm vào cơ chế thị trường bằng các nỗ lực đặc biệt về lập pháp. Trái lại, chúng ta thấy các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế định hướng thị trường gặp khó khăn như thế nào trong việc tạo ra sự khuyến khích thương mại đối với các nhà nghiên cứu và giáo sư trong khu vực công.
Trung Quốc đã ban hành luật bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của mình năm 1984, nhờ đó nâng cao nhận thức của các nhà nghiên cứu và các giáo sư đại học về mới liên quan của chuyển giao công nghệ. Năm 1999, một Đạo luật mới đã được đưa vào áp dụng liên quan đến việc tạo ra các công nghệ mới, phát triển công nghệ cao và ứng dụng chúng trong công nghiệp. Đạo luật này cho phép các trường đại học thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng như khuyến khích các giáo sư và các nhà nghiên cứu tại trường đại học tham gia các khu công nghiệp hoạt động tập trung vào công nghệ và thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học. Mục đích của Đạo luạt này là tạo ra cầu nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và ngành công nghiệp kỹ thuật cao có sức cạnh tranh trên thị trường. Đạo luật này cũng quy định rằng bất cứ người nào có đóng góp cho việc chuyển giao công nghệ do các trường đại học tạo ra tới khu vực tư nhân đều được hưởng thù lao, bằng việc cho phép các trường đại học sử dụng một phần thu nhập từ chuyển giao công nghệ cho mục đích đó. Đạo luật này khẳng định rằng các trường đại học cũng cẩn phải tăng cương quản lý SHTT, trả thù lao cho những nhân viên đã tạo ra sáng chế và cho những nhà nghiên cứu khác đồng thời nó đã mang lại sự khuyến khích mạnh mẽ đối với chuyển giao công nghệ đi kèm với sáng chế thuộc sở hữu của các trường đại học.
2. Độc quyền hay mở cửa, chính sách li xăng và thương mại hóa:
Những kết quả nghiên cứu đạt được trong lĩnh vực hàn lâm thường cần được thích nghi và phát triển thêm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong một số trường hợp, theo kinh tế học về phát triển và môi trường thị trường thì có thể bên được cấp li-xăng thuộc khu vực tư nhân sẽ đòi hỏi có độc quyền để thương mại hoá sáng chế. Việc này có thể xảy ra, bởi vì bên nhận li-xăng sẽ phải đầu tư cho việc triển khai sáng chế thành một sản phẩm tới một mức độ làm cho việc thu lợi nhuận không thể thực hiện được, nếu bên nhận li-xăng phải cạnh tranh với các bên nhận li xăng khác, những người không cần phải đầu tư như vậy nhưng có thể đơn giản cưỡi lên thành quả lao động của bên nhận li-xăng đầu tiên mà đi. Những nhân tố khác liên quan đến cạnh tranh thị trường có thể gây khó khăn cho bên nhận li-xăng thu lợi trên vốn đầu tư trong li- xăng. Liệu có cần li-xăng độc quyền hay không để làm cho li xăng đáng giá đối với bên nhận li-xăng là điều tuỳ thuộc vào từng tình huống thực tế. Khi đàm phán li-xăng, bên nhận li xăng tiềm năng thường cố thuyết phục bên giao li xăng cấp li-xăng độc quyền, bằng cách đưa ra nhiều lý lẽ mang tính thực tiễn.
Ví dụ, trong một số trường hợp, việc không có được li-xăng độc quyền sẽ làm cho bên nhận li xăng thuộc khu vực tư nhân nản lòng, không muốn tiếp tục làm thích nghi và cải tiến công nghệ thuộc đối tượng của li-xăng. Điều này có thể thực sự gây thiệt hại cho lợi ích của tổ chức cấp li-xăng, vì bên đó sẽ ít có khả năng nhận được tiền thù lao sinh lợi nếu công nghệ không được tối ưu hóa hoặc không thành công. Trên thực tế, một số chính phủ gần đây đã xem xét lại các chính sách li-xăng của mình liên quan đến công nghệ thu được từ các dự án do qũy công tài trợ. Ví dụ, gần đây Đức đã sửa đổi các quy chế của mình về quyền sở hữu đối với SHTT được tạo ra từ kết quả của sự tài trợ từ chính phủ. Khu vực tư nhân hiện nay có thể được sở hữu toàn bộ một bằng độc quyền sáng chế, bởi vì quy chế cũ (chỉ chia sẻ 50%) đã không khưyến khích thích đáng các hãng đương đại với sự rủi ro trong thương mại hoá sáng chế.
Trong những trương hợp khác, bên cấp li-xăng có thể cho rằng li-xăng không độc quyền thực sự thúc đẩy lợi ích của họ tốt hơn so với li-xăng độc quyền, vì li-xăng không độc quyền cho phép phổ biến công nghệ rộng rãi hơn. Chiến lược này rất có thể dẫn đến việc tạo ra khả năng về một chính sách, tiêu chuẩn được công nhận trên thực tế hoặc công nghệ cơ bản mà cuối cùng sẽ mang lại thu nhập cao hơn và sản sinh ra nhiều công nghệ mới hơn, vì tầm với rộng hơn của chiến lược này.
Trong những trường hợp mà công nghệ là công nghệ cơ bản hoặc công nghệ liên quan đến các lợi ích công cộng hoặc hàn lâm, các li-xăng tự nguyện và không độc quyền do một chủ bằng độc quyền sáng chế cấp cho các bên liên quan có thể là đủ để khai thác thương mại. Đạo luật Bayh-Dole của Hoa Kỳ có một số quy định bảo vệ lợi ích công chúng (được gọi là "quyền nhập cuộc"), đòi hỏi việc cấp li-xăng bắt buộc theo những điều kiện nhất định, nếu chủ bằng độc quyền sáng chế từ chối cấp li-xăng tự nguyện đối với công nghệ được cấp bằng độc quyền sáng chế khi công nghệ đó đã được tạo ra theo dự án do công quỹ tài trợ và khi việc cấp li-xăng cho các bên thứ ba được coi là vì lợi ích công cộng. Một ví dụ như vậy là một bằng độc quyền sáng chế về kỹ thuật ghép gen. Một công cụ gây chấn động khác trong công nghệ sinh học là việc sử dụng tế bảo gốc để nghiên cứu đã hối thúc các cuộc thảo luận về chính sách li-xăng cẩn được thông qua vì công nghệ này đã được cấp bằng độc quyền sáng chế cho một tổ chức phi lợi nhuận của Trường đại học Wisconsin. Như một quan chức chính phủ Hoa Kỳ đã phát biểu, "việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho các khám phá mới này không nhất thiết có tác động bất lợi đến công việc nghiên cứu tiếp theo, với điều kiện chủ bằng độc quyền sáng chế đưa ra một chiến lược li-xăng cho phép việc nghiên cứu cơ bản được tiếp tục mà không bị cản trở trong khi vẫn bảo toàn được giá trị thương mại".
3. Bằng độc quyền sáng chế then chốt trong công nghệ gen:
Ví dụ nổi tiếng nhất về việc áp dụng Đạo luật Bayh-Dole cho tới nay có lẽ là kỹ thuật tái hợp DNA được USPTO cấp bằng độc quyền sáng chế năm 1980 cho các giáo sư Cohen của Trường đại học Stanford và giáo sư Boyer của Trường đại học California. Mặc dù sáng chế này được cấp bằng độc quyền sáng chế có phạm vi rộng. Văn phòng Li-xăng công nghệ của trường đại học Stanford (OTL) đã lập ra một Chương trình li- xăng không độc quyền đơn giản cho các tổ chức thương mại, đồng thời cho phép các nhà nghiên cứu tại các tổ chức hàn lâm khác được sử dụng sáng chế miễn phí. OTL đã cấp trên 300 li-xăng và thu được hàng trăm triệu USD lợi nhuận. Kỹ thuật được cấp li-xăng đã trở thành một trong những công cụ trọng yếu của ngành công nghiệp công nghệ sinh học, ngành đã liên tục tăng trưởng và thịnh vượng cho đến khi trở nên hùng mạnh như ngày nay.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!