1. Có được toàn bộ di sản thừa kế khi phụng dưỡng bố mẹ ?

Thưa Luật sư, bà nội em sinh được 6 người con trong đó có 4 trai và 2 gái. Bác trai đầu đã mất từ năm 1990 hiện còn bác gái và anh con trai bác. Bà nội em ở cùng cô út ( cô út không lấy chồng ) và bà nội mất năm 2011. Bà nội có mảnh đất hiện sổ đỏ đang đứng tên bà, các con của bà đã có gia đình và nhà đất ở riêng. Sau khi bà mất cô út xây dựng gia đình và đòi quyền thừa kế mảnh đất vì lý do mình ở cùng và chăm sóc bà đến khi bà mất.
Cho em hỏi cô út đòi quyền như vậy có đúng không? Anh con trai của bác cả có quyền được thừa kế không?
Em xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo như thông tin bạn trình bày thì bà nội bạn sinh được 6 người con trong đó có 4 trai và 2 gái. Bác trai đầu đã mất từ năm 1990 hiện còn bác gái và anh con trai bác. Bà nội bạn ở cùng cô út (cô út không lấy chồng ) và bà nội mất năm 2011. Bà nội có mảnh đất hiện sổ đỏ đang đứng tên bà, các con của bà đã có gia đình và nhà đất ở riêng.
Bà nội bạn mất không để lại di chúc cho nên, tài sản thừa kế bà bạn sẽ được chia theo pháp luật.
Bộ luật dân sự 2005 tại điều 676 có quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy nếu theo luật định thì phần di sản bà bạn để lại sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm : ông bạn, và 6 người con.

Tuy nhiên, bác trai đầu lại mất từ năm 1990, tức là mất sau bà bạn (bà mất năm 2011). Theo Ðiều 635 Bộ luật Dân sự, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Như vậy, nếu người con đã chết trước ông bà nội bạn thì người đó không được hưởng di sản của ông bà bạn nữa. Tuy nhiên, phần di sản mà lẽ do họ được hưởng nếu còn sống sẽ được chia theo thừa kế thế vị quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự:

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Cho nên, phần di sản mà bác cả được hưởng sẽ được chuyển sang cho con trai bác.

Trường hợp của bạn, quyền sử dụng đất bà bạn để lại sẽ được chia đều cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Nếu hàng thừa kế thứ nhất không còn ai thì mới được chia cho những hàng thừa kế sau.

Về việc cô út của bạn chăm sóc và đòi hưởng toàn bộ di sản là không có căn cứ. Theo điều 70 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về quyền và nghĩa vụ của con như sau:

"Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

3. Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

4. Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.

5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình."

Việc chăm sóc mẹ là nghĩa vụ mà con cái phải làm, việc đòi thừa kế như vậy là vi phạm đạo đức xã hội.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Rất mong sự hợp tác cùng Quý khách hàng ! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thừa kế đất đai khi bản di chúc bị hủy ? Cách quyết tranh chất thừa kế đất đai ?

2. Con gái lấy chồng rồi thì có được hưởng di sản thừa kế nữa không ?

Chào luật sư, tôi có câu hỏi này rất thắc mắc mong nhận được lời tư vấn từ luật sư về vấn đề đất đai: Gia đình tôi có 4 chị em, tôi có 3 chị gái và tôi là con trai út. Khi còn sống, bố tôi đã cắt riêng 3 mảnh đất cho mỗi chị một mảnh và cũng đã làm sổ đỏ cho mỗi người rồi. Riêng tôi thì chưa được cho đất vì là con trai út trong nhà, sau này sẽ lo các công việc của tổ tiên.

Khi bố tôi mất, không để lại di chúc gì cả. Mẹ tôi nói bà quản lý toàn bộ tài sản trong nhà, và sẽ cho lại tôi toàn bộ khi bà qua đời. Bây giờ tôi muốn đòi phần đất bằng với các chị tôi đã được bố tôi cho thì có được không? Nếu bây giờ mà chia di sản thừa kế của bố tôi thì có phải tôi sẽ được hưởng toàn bộ khối di sản của bố tôi không? Các chị tôi đều đã được chia đất rồi thì sẽ không được hưởng tài sản gì nữa đúng không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tên khách hàng: Hoang Son

Con gái đã được cho đất rồi thì có được hưởng di sản thừa kế nữa không?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, bạn có thể đòi phần đất bằng với các chị của bạn không?

Theo thông tin của bạn, 3 chị gái của bạn được bố bạn cho đất khi còn sống, đó được hiểu là 3 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bố bạn với 3 chị gái bạn. Đồng thời 3 hợp đồng này đã phát sinh hiệu lực, quyền sử dụng đất đã được sang tên từ bố bạn cho 3 chị gái của bạn. Bố của bạn không cho bạn quyền sử dụng đất thì đương nhiên bạn sẽ không có quyền sử dụng hợp pháp với bất kỳ diện tích đất nào.

Đến khi bố bạn qua đời, ông chưa cho bạn đất, đồng thời cũng không để lại di chúc cho bạn hưởng quyền sử dụng đất thì đồng nghĩa với việc bạn sẽ không đương nhiên có được quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của bố bạn.

Bạn không thể đòi phần đất bằng với các chị bạn được, bởi việc bố bạn cho các chị gái bạn đất được thực hiện khi ông còn sống, theo ý chí của ông. Nay ông đã qua đời, không có di chúc, thì không thể thực hiện theo ý chí của ông được nữa. Lúc này đã phát sinh quan hệ pháp luật về thừa kế theo pháp luật, và phải tuân thủ quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về thừa kế theo pháp luật mà không thể là quan hệ pháp luật về tặng cho bất động sản.

Thứ hai, về vấn đề phân chia di sản thừa kế của bố bạn.

Như bạn đã cung cấp, bố bạn qua đời không có di chúc, nên phải áp dụng quy định của pháp luật về thừa kế theo Bộ luật dân sự năm 2005

"Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định".

Điều 675 BLDS quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:

"1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;..."

Điều 676 BLDS quy định về những người thừa kế theo pháp luật bao gồm:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Như vậy, khi xác định thừa kế pháp luật thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao giờ cũng là những người đầu tiên được hưởng di sản thừa kế, và những người này được hưởng phần di sản bằng nhau.

Hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn tạm thời xác định được gồm có: 4 chị em bạn và mẹ bạn là 5 người. 5 người này sẽ được hưởng một phần bằng nhau trong khối di sản của bố bạn. Do đó, bạn không thể nào đưa ra yêu cầu chỉ bạn được hưởng toàn bộ khối di sản của bố bạn, còn 3 chị gái của bạn đã được cho đất rồi thì không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nữa. Bạn chỉ được hưởng toàn bộ khối di sản của bố bạn khi mẹ bạn và 3 người chị gái từ chối nhận di sản thừa kế.

Mặt khác, khi phân chia di sản thừa kế của bố bạn thì phải xác định được khối di sản của bố bạn, bao gồm tài sản riêng hợp pháp và phần tài sản chung trong sở hữu chung vợ chồng và sở hữu chung với các đồng chủ sở hữu khác.

Mẹ bạn có nói rằng, sẽ để lại toàn bộ tài sản cho bạn khi bà qua đời, thì đồng nghĩa với việc bà phải để lại di chúc cho riêng bạn toàn bộ khối di sản của bà. Thì khi mẹ bạn qua đời, bạn mới được pháp luật thừa nhận là người duy nhất được hưởng toàn bộ khối di sản mẹ bạn để lại theo di nguyện của bà.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong có thể giải đáp thắc mắc của bạn.

>> Xem thêm:  Tư vấn về quyền thừa kế đất đai của con trưởng ? Người định cư ở nước ngoài có được thừa kế ?

3. Tư vấn giải quyết di sản thừa kế là tiền từ ngước noài gửi về ?

Trong những năm qua, nhờ có chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước mà nhiều người dân được ra nước ngoài sinh sống bằng những hình thức khác nhau, như: đi lao động có thời hạn, đi học, đi du lịch, đi nghiên cứu và khảo sát thị trường, kết hôn với người nước ngoài …

Sau nhiều năm “bôn ba, sinh sống” ở nước ngoài, nhiều người đã quay trở về Việt Nam để sống những ngày còn lại của cuộc đời, thể hiện một bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Việt Nam “hướng về cội nguồn lúc tuổi già”. Nhiều người trong số đó đã dùng những đồng vốn, kinh nghiệm và kiến thức tích lũy được trong những năm sinh sống ở nước ngoài để đầu tư, xây dựng quê hương đất nước.

Ngân hàng được coi là một trong những địa chỉ tin cậy để những người Việt Nam từ nước ngoài trở về lựa chọn, gửi tiền. Tùy theo mục đích và sự lựa chọn của mình, người gửi tiền có thể gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và được hưởng lãi theo lãi suất của kỳ hạn tương ứng do ngân hàng nơi nhận tiền gửi quy định. Hình thức gửi tiền tại ngân hàng có thể không mang lại lợi nhuận cao so với nhiều hình thức đầu tư khác, như: buôn bán bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu … nhưng hình thức đầu tư này an toàn hơn, ít rủi ro hơn.

Thực tế gần đây, sau gửi tiền được một thời gian, thì chẳng may người gửi tiền bị chết đột ngột do mắc bệnh hiểm nghèo hoặc các nguyên nhân nhân khác (tai nạn, ….) mà không để lại di chúc. Do vậy, thân nhân của người gửi tiền (người còn sống) đã đến ngân hàng yêu cầu được rút số tiền trên tài khoản của người đó (người chết).

Theo quy định của pháp luật, khi một người có tiền gửi tại ngân hàng chết, thì số tiền gửi của người đó sẽ được thừa hưởng bởi một hay nhiều người thừa kế. Nếu người gửi tiền không để lại di chúc trước khi chết, thì những người thừa kế theo pháp luật (thừa kế theo hàng) sẽ được nhận số tiền gửi do người chết để lại. Báo cáo tổng kết hằng năm của các ngân hàng cho thấy việc giải quyết số tiền gửi của người chết để lại thường rất phức tạp vì pháp luật của nước ta về thừa kế chưa rõ ràng, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết và việc thừa kế liên quan đến nhiều yếu tố, đặc biệt là thừa kế có yếu tố nước ngoài. Do vậy, các ngân hàng đã có những cách thức giải quyết khác nhau về di sản thừa kế của người nước ngoài để lại, thậm chí cách giải quyết của một số ngân hàng còn không phù hợp với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thừa kế. Chính vì lẽ đó, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nêu ra một số vấn đề pháp lý về di sản thừa kế có yếu tố nước ngoài và hướng giải quyết để các ngân hàng tham khảo, áp dụng vào hoạt động thực tiễn của mình.

Một số vấn đề pháp lý về giải quyết di sản thừa kế - Tiền gửi của người nước ngoài

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

1. Về chọn luật áp dụng để giải quyết di sản thừa kế có yếu tố nước ngoài

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Pháp luật Việt Nam cho phép người nước ngoài (công dân nước ngoài và người không quốc tịch) được mở tài khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam để thực hiện các giao dịch thanh toán. Là chủ tài khoản, người nước ngoài có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản của mình thông qua các lệnh thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật. Ngân hàng nơi mở tài khoản chỉ thực hiện lệnh thanh toán của chủ tài khoản trong phạm vi số dư hiện có trên tài khoản, ngoại trừ một số ngân hàng có thỏa thuận với khách hàng sử dụng dịch vụ thấu chi. Trường hợp chủ tài khoản chết, thì số dư (số tiền) trên tài khoản của chủ tài khoản sẽ được chi trả cho một/nhiều người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, thì di sản là tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Cá nhân (chủ sở hữu tài sản) có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại cho người khác. Người thừa kế có thể là thân nhân của người để lại di sản hoặc tổ chức, cá nhân khác. Trong trường hợp này, theo yêu cầu của người hoặc những người thừa kế được xác định trong di chúc, ngân hàng sẽ xem xét, giải quyết cho người hoặc những người thừa kế được nhận số tiền trên tài khoản của người để lại di sản. Theo quy định của ngân hàng và pháp luật, người đến ngân hàng lĩnh tiền phải xuất trình các giấy tờ cần thiết, như: đơn xin lĩnh tiền, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, bản di chúc hợp pháp, giấy chứng tử của người để lại di sản (chủ tài khoản), giấy ủy quyền của những người thừa kế khác có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc công chứng (trong trường hợp có nhiều người thừa kế)…..

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp chủ tài khoản không để lại di chúc trước khi chết. Cho nên, trong trường hợp này người thừa kế theo pháp luật sẽ được nhận số tiền trên tài khoản của chủ tài khoản. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, thì việc thừa kế theo pháp luật phải được xác định theo thứ tự hàng thừa kế, bao gồm: hàng thừa kế thứ nhất, hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba. Hàng thừa kế thứ nhất gồm có: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người để lại di sản. Do đó, trong thực tế hiếm có trường hợp không có người ở hàng thừa kế thứ nhất hưởng di sản của người chết để lại.

Để giải quyết cho những người thừa kế theo pháp luật được hưởng (nhận) số tiền trên tài khoản của người để lại di sản, thì trước hết ngân hàng cần chọn đúng luật áp dụng. Nó không chỉ là cơ sở pháp lý cho ngân hàng giải quyết di sản thừa kế, bảo đảm quyền, lợi ích của những người thừa kế theo pháp luật mà còn bảo vệ được chính ngân hàng khi có khiếu nại, khởi kiện đối với mình. Chính vì vậy, ngân hàng phải xác định rõ thời điểm mở thừa kế và thời điểm nhận đơn yêu cầu của người/những người thừa kế trong hai trường hợp sau đây để chọn luật áp dụng:

Trường hợp thứ nhất: Thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết) và thời điểm người/những người thừa kế nộp đơn yêu cầu nhận di sản thừa kế trước ngày 01/01/2006 (ngày có hiệu lực của Bộ luật Dân sự năm 2005), thì dù hiện tại ngân hàng hiện đang hoàn thiện các thủ tục để giải quyết cho người thừa kế nhận số tiền trên tài khoản của người chết để lại, như: yêu cầu các giấy tờ của nước ngoài do người thừa kế xuất trình phải được hợp pháp lãnh sự; gửi công văn cho Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao Việt Nam để đề nghị xác nhận con dấu và chữ ký của những viên chức lãnh sự, Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam trên các giấy tờ mà người thừa kế cung cấp … luật áp dụng để giải quyết di sản thừa kế vẫn là luật tại thời điểm ngân hàng nhận được đơn yêu cầu của người thừa kế.

Mặt khác, theo Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội, thì giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức khác với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 hoặc giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để giải quyết”. Cho nên, việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó (Điều 833 – Bộ luật Dân sự năm 1995). Di sản thừa kế nói trên là số tiền gửi trên tài khoản thuộc sở hữu của người chết để lại tại ngân hàng Việt Nam, nên luật áp dụng để giải quyết di sản thừa kế đó là Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản pháp luật khác có liên quan của Việt Nam.

Trường hợp thứ hai: Thời điểm mở thừa kế và thời điểm ngân hàng nhận được đơn yêu cầu của những người thừa kế từ ngày 01/01/2006 đến nay, thì cơ sở pháp lý để ngân hàng xem xét, giải quyết cho người thừa kế nhận số tiền gửi trên tài khoản của người nước ngoài để lại là Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó, thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết (khoản 1 Điều 767).

2. Về người được phân chia di sản thừa kế

Theo quy định của cả Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, thì chỉ có người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận cử ra mới được phân chia di sản.

Thực tế, trong nhiều năm qua, mặc dù là người quản lý di sản của người chết để lại nhưng do di chúc không chỉ định (trong trường hợp chủ tài khoản để lại di chúc) hoặc không được những người thừa kế thỏa thuận cử ra (trong trường hợp chủ tài khoản không để lại di chúc), nhưng ngân hàng vẫn không có quyền phân chia di sản. Hơn nữa, ngân hàng cũng không muốn trực tiếp phân chia di sản cho từng người thừa kế vì ngân hàng sợ mất nhiều thời gian cho công việc này, làm ảnh hưởng đến công việc khác và sợ liên luỵ, gặp phiền toái khi những người thừa kế có tranh chấp về di sản. Do vậy, cách tốt nhất là ngân hàng yêu cầu tất cả những người thừa kế cử ra một người làm đại diện đến giao dịch và làm các thủ tục cần thiết để nhận toàn bộ số tiền trên tài khoản của người chết để lại. Trong trường hợp này, ngân hàng không phải là người phân chia di sản thừa kế mà chỉ giao toàn bộ di sản thừa kế cho người đại diện theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế. Sau đó, những người thừa kế tự phân chia với nhau đối với số tiền vừa nhận được từ ngân hàng (di sản thừa kế). Việc những người thừa kế còn lại ủy quyền cho người đại diện đến giao dịch và làm các thủ tục cần thiết theo yêu cầu của ngân hàng để được nhận di sản thừa kế được coi như những người thừa kế còn lại (người ủy quyền) đã trao quyền cho người đại diện thay mặt mình đến nhận di sản thừa kế tại ngân hàng. Do đó, người đại diện cùng với những người thừa kế còn lại phải cam kết và chịu trách nhiệm trước ngân hàng và trước pháp luật về việc chủ tài khoản không để lại di chúc trước khi chết và không có bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến di sản thừa kế vì theo quy định của pháp luật, ngân hàng không được giải quyết cho người đại diện nhận số tiền trên tài khoản của người chết để lại khi có tranh chấp.

Hơn nữa, ngoài người để lại di sản, thì chỉ có những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất mới biết rõ người để lại di sản có để lại di chúc trước khi chết hay không. Cho nên, sau khi kiểm tra các giấy tờ do người đại diện xuất trình, như: văn bản uỷ quyền của những người thừa kế còn lại có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc công chứng (văn bản uỷ quyền này có thể lập thành văn bản chung hoặc văn bản riêng, tùy theo nơi cư trú của những người thừa kế), đơn xin rút tiền của người đại diện có xác nhận của chính địa phương, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu và giấy chứng tử của người để lại di sản …., ngân hàng tiến hành các thủ tục để giao toàn bộ số tiền gửi của người chết để lại cho người đại diện (người được ủy quyền) theo quy định chung của ngân hàng. Trong trường hợp các giấy tờ trên đây được lập bằng tiếng nước ngoài và ở nước ngoài, thì các giấy tờ đó phải được hợp pháp hoá lãnh sự và phải được dịch sang tiếng Việt, có công chứng.

Ngoài ra, để phòng ngừa những giấy tờ giả mạo, ngân hàng cần yêu cầu những người thừa kế cung cấp cho mình văn bản cam kết có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (công chứng, chứng thực hoặc hợp pháp hoá lãnh sự). Đối với giấy tờ, tài liệu của nước ngoài, theo yêu cầu của công dân Việt Nam, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài sẽ xem xét, chứng thực chữ ký, con dấu trên giấy tờ, tài liệu đó để sử dụng tại Việt Nam. Sau đó, một số ngân hàng còn thận trọng đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam kiểm tra, xác nhận con dấu và chữ ký của nhân viên ngoại giao trên các văn bản được hợp pháp hoá lãnh sự do những người thừa kế cung cấp. Khi nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận giấy tờ, tài liệu mà ngân hàng đề nghị xác minh khớp đúng với hồ sơ lưu tại Đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Việt Nam ở nước nơi công dân Việt Nam đã yêu cầu hợp pháp hoá lãnh sự, ngân hàng mới giải quyết cho người xuất trình các tài liệu, giấy tờ đó nhận di sản thừa kế theo quy định của ngân hàng và pháp luật.

3. Về hướng giải quyết khi có tranh chấp về di sản thừa kế

Gần đây, có nhiều trường hợp phụ nữ Việt Nam đưa chồng (người nước ngoài) cùng các con về thăm quê hương và có ý định mua nhà ở để sinh sống tại Việt Nam. Trong thời gian đầu, do chưa tìm được nhà ở thích hợp, nên họ tạm thời thuê nhà để ở hoặc ở khách sạn hoặc ở nhờ người thân. Để bảo đảm an toàn, trong thời gian này, người chồng đến mở tài khoản tại một ngân hàng thương mại Việt Nam để nộp tiền vào và nhận tiền từ nước ngoài chuyển về. Đáng tiếc thay, khi tìm được nhà ở thích hợp, thì người chồng chết mà không để lại di chúc. Do đó, người vợ đã làm đơn gửi ngân hàng đề nghị được rút số tiền trên tài khoản mang tên chồng để thanh toán tiền mua nhà ở như vợ chồng đã thỏa thuận với nhau trước đây. Vấn đề trở nên đơn giản để ngân hàng giải quyết cho người vợ nhận toàn bộ số tiền trên tài khoản của người chồng nếu tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất đồng ý, uỷ quyền cho người vợ – đại diện cho những người thừa kế đến làm các thủ tục lĩnh tiền tại ngân hàng. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào tất cả những người thừa kế cũng có sự đồng thuận cao, nhất trí, ủy quyền cho một người làm đại diện đến làm thủ tục nhận di sản thừa kế tại ngân hàng.

Thực tế, một số trường hợp có tranh chấp về di sản thừa kế: một trong những người con mang quốc tịch nước ngoài không đồng ý cho mẹ mình đến lĩnh số tiền của người bố vì cho rằng số tiền đó phải thuộc về mình. Trong trường hợp này, do có tranh chấp về di sản thừa kế, nên một số ngân hàng nước ta đã không giải quyết cho người vợ nhận bất kỳ phần nào trong tổng số tiền trên tài khoản của người chồng để lại tại ngân hàng và thông báo cho người vợ biết ngân hàng chỉ xem xét, giải quyết số tiền trên tài khoản của người chồng khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án Việt Nam. Vì vậy, người vợ gặp không ít khó khăn về tài chính để chi trả tiền nhà ở, sinh hoạt và các chi phí khác.

Qua nghiên cứu thực tiễn giải quyết di sản thừa kế là số tiền trên tài khoản của người nước ngoài và các văn bản pháp luật có liên quan của Việt Nam, chúng tôi thấy rằng cách giải quyết nói trên của các ngân hàng là chưa phù hợp, không bảo đảm được quyền và lợi ích của người vợ vì những lý do sau đây:

Thứ nhất: Theo quy định tại Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000, thì “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” (khoản 1). “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” (khoản 3). Cho nên, nếu người con tranh chấp về di sản thừa kế không xuất trình được những giấy tờ, tài liệu hợp pháp chứng minh toàn bộ số tiền trên tài khoản là tài sản riêng của người bố, thì toàn bộ số tiền đó là tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 64 của Hiến pháp và Điều 28 của Luật Hôn nhân và Gia đình). Cho nên, người vợ có quyền sở hữu một nửa (50%) số tiền trên tài khoản của người chồng để lại tại ngân hàng.

Thứ hai: Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Tiền trên tài khoản của người chồng là tài sản chung hợp nhất có thể phân chia được. Cho nên, mỗi sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung (Điều 224 của Bộ luật Dân sự). Cho đến nay, pháp luật nước ta chỉ không cho phép ngân hàng (với tư cách là người quản lý di sản) phân chia di sản thừa kế nếu không được chỉ định trong di chúc hoặc không được những người thừa kế thỏa thuận cử ra chứ không cấm chia tài sản chung theo yêu cầu của đồng sở hữu nếu sở hữu chung có thể phân chia được. Do đó, người vợ được quyền yêu cầu ngân hàng phân chia cho mình 50% số tiền trên tài khoản của người chồng để lại và ngân hàng được xem xét, giải quyết yêu cầu đó của người vợ; 50% số tiền còn lại là di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, trong đó có người vợ.

Thứ ba: Như đã nói ở trên, thừa kế số tiền trên tài khoản của người nước ngoài là một quan hệ dân sự. Cho nên, nguyên tắc tự thỏa thuận và tự định đoạt của những người thừa kế đối với số tiền trên tài khoản phải được ưu tiên hàng đầu. Việc ngân hàng không giải quyết cho người vợ nhận phần tiền thuộc sở hữu của người vợ trong tổng số tiền trên tài khoản của người chồng để lại (tài sản chung của vợ chồng) mà yêu cầu chờ đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án Việt Nam mới giải quyết không những không phù hợp với quy định của pháp luật nước ta mà còn vô hình chung đưa ra điều kiện buộc những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất tranh chấp với nhau, khởi kiện nhau ra Tòa án Việt Nam để được nhận di sản thừa kế. Trong khi hầu hết các tổ chức, cá nhân đều coi khởi kiện ra Tòa án là biện pháp cuối cùng sau khi đã thực hiện các biện pháp khác như thuyết phục, thương lượng, thỏa thuận … mà không mang lại kết quả.

Trong trường hợp nói trên, tranh chấp về di sản thừa kế (1/2 số tiền trên tài khoản của người chết để lại) là tranh chấp giữa những người thân trong gia đình (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất). Cho nên, cần có thêm thời gian để những người đó tự thu xếp, thỏa thuận với nhau. Nếu họ không tự giải quyết được với nhau, thì vào một lúc nào đó một người trong số họ sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, ngân hàng giải quyết cho những người thừa kế nhận số tiền trên tài khoản của người nước ngoài để lại vẫn chưa muộn vì trong thời gian chưa giải quyết, số tiền trên tài khoản của người chết để lại vẫn được tính lãi bình thường. Cách giải quyết này vừa “thấu tình”, vừa “đạt lý”

Thứ tư: Nếu việc áp dụng pháp luật của nước nơi người để lại di sản mang quốc tịch trước khi chết để giải quyết số tiền trên tài khoản của người chết để lại, thì việc ngân hàng giải quyết cho người vợ nhận 50% số tiền trên tài khoản của người chồng theo yêu cầu của người vợ cũng không vi phạm quy định của pháp luật vì theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, trong trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài, thì pháp luật của nước đó được áp dụng, với điều kiện việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; đó là chưa kể đến trường hợp pháp luật nước có dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam, thì pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng. Vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung là một nguyên tắc cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta (Điều 64) và được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, dù áp dụng pháp luật Việt Nam hay áp dụng luật nước ngoài, thì số tiền mà người vợ được chia từ số tiền trên tài khoản của người chồng tại ngân hàng Việt Nam (tài sản chung của vợ chồng) vẫn phải phù hợp với nguyên tắc cơ bản nói trên. Ngay cả khi vụ việc được Tòa án nước ngoài giải quyết mà trong bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tuyên người vợ được nhận ít hơn 50% số tiền trên tài khoản của người chồng tại ngân hàng Việt Nam (là tài sản chung của vợ chồng), thì phần bản án, quyết định đó của Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Chính vì những lẽ trên, chúng tôi cho rằng trong khi có một người con tranh chấp với những người còn lại thuộc hàng thừa kế thứ nhất về di sản thừa kế, thì ngân hàng vẫn có thể xem xét, giải quyết cho người vợ nhận 50% số tiền trên tài khoản của người chồng khi người vợ có văn bản yêu cầu và có văn bản chứng minh người đó là vợ hợp pháp của chủ tài khoản, như: bản sao có công chứng, chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kết hôn hoặc giấy tờ khác có giá trị tương đương …. Trình tự và thủ tục giải quyết cho người vợ nhận tiền (rút tiền mặt hoặc chuyển khoản) phải được thực hiện phù hợp với quy định hiện hành của từng ngân hàng và pháp luật Việt Nam.

Đối với 50% số tiền còn lại trên tài khoản của người chồng, ngân hàng có thể tạm thời chưa giải quyết theo yêu cầu của người thừa kế vì di sản thừa kế đang có tranh chấp (tranh chấp về di sản thừa kế chứ không phải tranh chấp về tài sản chung) và những người thừa kế theo pháp luật chưa thỏa thuận được với nhau về việc cử người đại diện đến ngân hàng để làm thủ tục nhận di sản thừa kế. Hơn nữa, ngân hàng không phải là người phân chia di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam. Vì vậy, ngân hàng tiếp tục quản lý di sản thừa kế cho đến khi những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất thỏa thuận được với nhau về việc cử người đại diện theo ủy quyền đến ngân hàng để làm thủ tục lĩnh toàn bộ số tiền này hoặc cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án Việt Nam về việc phân chia di sản thừa kế.

>> Xem thêm:  Người nhà bỏ đi hơn 20 năm không rõ tin tức thì có được chia thừa kế không ?

4. Ai được hưởng di sản thừa kế khi người để lại di sản mất không có vợ con ?

Xin hỏi luật sư về phân chia tài sản thừa kế: Ông nội và bà nội tôi sinh được 5 người con. Ông nội tôi mất năm 1992 không có di chúc để lại khối tài sản 1/2 thửa đất gồm 360m2 đất ở và 60m2 đất vườn.
Nhưng thửa đất đó lại nằm chung với thửa của con trai cả của ông.thửa của con trai cả là 144m2 đất ở. hiện tại mảnh đất đó gồm 504m2 đất ở và 60m2 đất vườn. Nhưng bác tôi lại mất năm 2000, bác tôi không có vợ và có con nào cả. Vậy xin hỏi luật sư trường hợp này phân chia như thế nào là đúng ?
Chân thành cảm ơn luật sư rất mong nhận được trả lời từ luật sư.

Đòi toàn bộ di sản thừa kế vì phụng dưỡng mẹ trước khi mất?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Do ông nội bạn và bác của bạn không để lại di chúc nên việc chia tài sản thừa kế sẽ được chia theo quy định của pháp luật thừa kế. Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, đối với phần tài sản của ông bạn

Điều 676, Bộ luật dân sự năm 2005 theo người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, tại thời điểm ông bạn mất bác bạn vẫn còn sống theo đó tài sản của ông bạn sẽ được chia thành 6 phần cho bà nội bạn và 5 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

- Thứ hai, đối với tài sản của bác bạn

Bác bạn mất mà chưa có vợ, con nên chiếu theo quy định tại điều 676 thì người được hưởng di sản của bác bạn bao gồm phần đất của bác bạn và 1 phần di sản mà bác bạn được hưởng thừa kế từ ông bạn là một mình bà nội bạn thôi, nếu bà nội bạn mất những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bác bạn bao gồm : anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại sẽ được hưởng phần di sản để lại của bác bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Mua lại phần thừa kế của các đồng thừa kế?

>> Xem thêm:  Chia thừa kế khi một bên vợ hoặc chồng chết ? Sống vô trách nhiệm với Cha Mẹ già có được thừa kế

5. Tư vấn giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế của ông bà để lại ?

Ông nội tôi có 2 vợ. Ông có 4 người con riêng với bà cả. Sau khi bà cả mất ông chung sống với bà nội tôi nhưng không có giấy đăng ký kết hôn. Bà nội tôi cũng có 3 người con riêng cùng về chung sống sau đó lập gia đình và đã ổn định kinh tế. Chỉ còn bố mẹ tôi cùng chung sống với ông bà.

Năm 2003 bố tôi mất sau đó năm 2009 ông nội tôi mất. Ông mất không để lại di chúc về phần đất do ông đứng tên sổ đỏ gồm đất thổ cư, ruộng và rừng. Hiện tại bà nội tôi đã được cấp sổ đỏ về ruộng canh tác mà trước đây ông nội tôi đứng tên. Còn về phần đất thổ cư và rừng thì đang xảy ra tranh chấp giữa gia đình tôi và con riêng của ông về phần rừng còn lại.

Vậy luật sư cho tôi hỏi gia đình tôi gồm mẹ tôi, tôi và em trai tôi có quyền được sử dụng phần đất thổ cư và rừng còn lại không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: P.K

Tư vấn giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế của ông bà để lại ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Năm 2009, ông nội mất không để lại di chúc về phần đất do ông đứng tên sổ đỏ gồm đất thổ cư, ruộng và rừng. Hiện tại bà nội đã được cấp sổ đỏ về ruộng canh tác mà trước đây ông nội đứng tên. Còn về phần đất thổ cư và rừng thì đang xảy ra tranh chấp giữa gia đình bạn và con riêng của bà về phần rừng còn lại.
Ông bà bạn chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn do bạn không xác định thời hạn nên chia trường hợp như sau:
+) Trường hợp 1: Nếu như ông bà bạn chung sống từ trước 03/01/1987, tuy không đăng ký kết hôn thì vẫn được công nhận là người đang có vợ, chồng. Nghị quyết 02/2000/ NQ-HĐTP: Hướng dẫn luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định như sau:

"c.1. Người đang có vợ hoặc có chồng là:

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003)."

Theo đó, bà bạn chứng minh được từ ngày ông bà chung sống với nhau có tạo lập được những tài sản chung là gì, khi ông bạn mất bà bạn có quyền lợi quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế."

Luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 219. Sở hữu chung của vợ chồng

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung."

-> Như vậy nếu như có yêu cầu chia di sản thừa kế thì bà bạn hưởng 1/2 tài sản chung, còn 1/2 tài sản chia cho hàng thừa kế thứ nhất (Điều 676) của ông đươc xác định là vợ và các con đẻ, con nuôi của ông( nếu có).

"Điều 679. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này."

"Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Nếu như những người con riêng chứng minh đươc có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng như cha mẹ,con thì được thừa kế di sản của cha dượng. Do đó gia đình bạn do bố bạn đã mất trước ông bạn nên bạn sẽ có quyền lợi hưởng di sản thay cho bố mình.

+) Trường hợp 2: Trường hợp ông bà chung sống từ sau ngày 3/1/1987 cho đến nay không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là người đang có vợ chồng, lúc này nếu như ông bà chung sống với nhau có tài sản chung và bà chứng minh được do công sức đóng góp hai bên, thì bà có quyền yêu cầu chia tài sản chung với ông theo quy định của bộ luật dân sự 2005. Hơn nữa nếu như gia đình bạn có chứng minh được công sức đóng góp của mình vào phần đất thổ cư và đất rừng này thì gia đình bạn được chia như sau:

"Điều 224. Chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung

1. Trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu các chủ sở hữu chung đã thoả thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để chia.

2. Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán."

-> Nếu không có quan hệ hôn nhân giữa ông bà, và gia đình bạn cũng không chứng minh được công sức đóng góp của mình thì gia đình bạn gồm bạn, mẹ bạn và em trai sẽ không được quyền sử dụng mảnh đất của ông.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách lập biên bản phân chia thừa kế hợp pháp ? Cách giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế ?