- 1. Đối tượng áp dụng Luật Đất đai 2024
- 2. Nhóm người sử dụng đất bao gồm những đối tượng nào?
- 2.1. Tổ chức trong nước
- 2.2. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
- 2.3. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam
- 2.4. Cộng đồng dân cư
- 2.5. Tổ chức nước ngoài
- 2.6. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài
- 2.7. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- 3. Nguyên tắc sử dụng đất được quy định như thế nào?
- Kết luận
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, giữ vai trò nền tảng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đời sống của mỗi người dân. Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ngày càng trở nên cấp thiết, Luật Đất đai 2024 đã được ban hành với nhiều điểm mới quan trọng, thể hiện tư duy đổi mới trong quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai một cách bền vững. Một trong những nội dung có ý nghĩa nền tảng của Luật là quy định về đối tượng áp dụng, nhằm xác định rõ những chủ thể nào phải tuân thủ, được bảo vệ và được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật đất đai. Việc làm rõ đối tượng áp dụng không chỉ giúp thống nhất trong quá trình tổ chức thi hành Luật mà còn góp phần nâng cao nhận thức pháp lý, hạn chế tranh chấp và bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong quản lý, sử dụng đất đai.
1. Đối tượng áp dụng Luật Đất đai 2024
Theo điều 2 Luật đất đai 2024 thì đối tượng áp dụng trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai được quy đinh nhằm xác định rõ phạm vi ấp dụng của pháp luật đất đai nhằm bảo đảm hiệu quả quản lý, khai thác tài nguyên đất, bao gồm ba nhóm chủ thể chính:
- Cơ quan nhà nước thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai
Đây là các cơ quan thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện cho chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Các cơ quan này không chỉ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai một cách thống nhất, mà còn đảm bảo việc ban hành và thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai đúng quy định. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cơ quan nhà nước phải vừa bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời giải quyết kịp thời các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến đất đai.
- Người sử dụng đất
Đây là những cá nhân, tổ chức được pháp luật giao quyền sử dụng đất, bao gồm quyền chiếm dụng, khai thác, chuyển nhượng hoặc cho thuê đất theo quy định. Người sử dụng đất có nghĩa vụ thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định, sử dụng đất một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, đồng thời chấp hành các nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai, như nộp thuế, phí hoặc các khoản bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai
Nhóm này bao gồm những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoặc các cơ quan, đơn vị tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý, sử dụng đất đai. Họ có thể tham gia trong các hoạt động như khảo sát, lập dự án, đánh giá tác động môi trường, quản lý, giám sát việc sử dụng đất, hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước và người sử dụng đất trong việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan. Việc quy định nhóm đối tượng này nhằm đảm bảo tính toàn diện trong quản lý đất đai, tránh bỏ sót những chủ thể có vai trò quan trọng, dù không phải là người sở hữu hay sử dụng đất trực tiếp.
Như vậy, việc xác định rõ ràng các đối tượng áp dụng pháp luật về đất đai vừa giúp phân định trách nhiệm và quyền hạn của từng chủ thể, vừa tạo cơ sở pháp lý để thực thi các chính sách quản lý đất đai một cách đồng bộ, minh bạch và hiệu quả, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên liên quan.
2. Nhóm người sử dụng đất bao gồm những đối tượng nào?
Theo điều 4 Luật đất đai năm 2024 thì Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; nhận quyền sử dụng đất; thuê lại đất theo quy định của Luật này, bao gồm:
2.1. Tổ chức trong nước
Theo khoản 1 điều 4 Luật đất đai 2024 thì Tổ chức trong nước bao gồm hai loại chủ thể chính:
- Cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, đơn vị vũ trang nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Cơ quan nhà nước là các cơ quan hành chính, lập pháp và tư pháp ở trung ương và địa phương, giữ vai trò quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện quyền hạn đại diện chủ sở hữu toàn dân và bảo đảm việc thi hành pháp luật đất đai một cách thống nhất, hiệu quả.
Cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam tham gia lãnh đạo, chỉ đạo các chính sách, pháp luật về đất đai, đảm bảo việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh. Các cơ quan này định hướng và kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật, góp phần đảm bảo tính nhất quán trong quản lý đất đai.
Đơn vị vũ trang nhân dân bao gồm Quân đội, Công an và các lực lượng vũ trang khác, sử dụng đất chủ yếu cho mục đích quốc phòng, an ninh, huấn luyện và các nhiệm vụ đặc thù, bảo vệ chủ quyền và trật tự xã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp tham gia giám sát, phản biện và phối hợp với Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng đất, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân, đồng thời tuyên truyền, vận động cộng đồng thực hiện đúng quy định pháp luật về đất đai.
Tổ chức xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp đóng vai trò bổ sung trong việc tham gia quản lý, tư vấn, giám sát việc sử dụng đất phục vụ lợi ích cộng đồng hoặc phát triển nghề nghiệp chuyên môn, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng đất.
Đơn vị sự nghiệp công lập như trường học, bệnh viện, cơ sở nghiên cứu, văn hóa – nghệ thuật sử dụng đất nhằm phục vụ các hoạt động công ích, đáp ứng nhu cầu giáo dục, y tế, nghiên cứu và phát triển văn hóa – xã hội.
Cuối cùng, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật là những tổ chức được công nhận và giao quyền sử dụng đất để thực hiện nhiệm vụ đặc thù hoặc phục vụ lợi ích cộng đồng, góp phần mở rộng phạm vi quản lý và khai thác nguồn lực đất đai một cách linh hoạt, hiệu quả.
- Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế)
Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư là những tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh, đầu tư và sản xuất theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhóm tổ chức này bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và các loại hình tổ chức kinh tế khác được pháp luật công nhận, trừ những trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai 2024.
Các tổ chức kinh tế có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, bao gồm nhận giao đất, thuê đất, nhận quyền sử dụng đất, hoặc thuê lại đất để thực hiện các dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp hoặc các mục đích kinh tế khác. Việc sử dụng đất của các tổ chức này phải tuân thủ quy định về mục đích sử dụng, bảo vệ môi trường, an ninh, quốc phòng và các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, như nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, phí, thuế hoặc các khoản bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Quy định về nhóm tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo rằng các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, đầu tư trên đất đai được thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp, đồng thời góp phần khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việc loại trừ một số trường hợp đặc biệt tại khoản 7 Điều 4 cũng nhằm phân định rõ ràng phạm vi áp dụng pháp luật đất đai, tránh mâu thuẫn giữa các loại hình tổ chức và mục tiêu quản lý đất đai của Nhà nước.
2.2. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
Là các cơ sở, chi nhánh của tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp. Nhóm này được phép sử dụng đất để xây dựng cơ sở thờ tự, phục vụ sinh hoạt tôn giáo và cộng đồng, phải tuân thủ quy định pháp luật về mục đích sử dụng đất, bảo vệ môi trường, an ninh và quyền lợi hợp pháp của người khác.
2.3. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam
Là công dân Việt Nam, bao gồm cả những người sống trong nước và định cư ở nước ngoài nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Nhóm này được phép sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất, đồng thời phải sử dụng đất đúng mục đích, bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
2.4. Cộng đồng dân cư
Là nhóm người sinh sống, cư trú ổn định tại một địa phương, cùng có quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng, quản lý đất đai phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Nhóm này có thể được giao đất, sử dụng đất tập thể hoặc tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng, đồng thời phải tuân thủ quy định pháp luật về mục đích sử dụng đất và bảo vệ môi trường.
2.5. Tổ chức nước ngoài
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.
Là các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, hoặc các cơ quan đại diện khác của nước ngoài được Chính phủ Việt Nam thừa nhận, bao gồm cả cơ quan của Liên hợp quốc hoặc các tổ chức liên chính phủ. Nhóm này được phép sử dụng đất theo quy định để thực hiện chức năng ngoại giao, công vụ và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, đồng thời phải tuân thủ các quy định pháp luật về đất đai và bảo vệ an ninh, trật tự.
2.6. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài
Là công dân hoặc người Việt Nam có nguồn gốc Việt Nam sinh sống lâu dài ở nước ngoài nhưng vẫn được pháp luật Việt Nam công nhận quyền sử dụng đất. Nhóm này có thể nhận giao đất, thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam để thực hiện mục đích hợp pháp, đồng thời phải tuân thủ các quy định về sử dụng đất, bảo vệ môi trường và nghĩa vụ tài chính theo pháp luật.
2.7. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Là các doanh nghiệp, công ty hoặc tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo pháp luật đầu tư, với vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài. Nhóm này được phép sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh hợp pháp, đồng thời phải tuân thủ các quy định về mục đích sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính và các quy định pháp luật khác liên quan đến đất đai.
3. Nguyên tắc sử dụng đất được quy định như thế nào?
Điều 5 Luật Đất đai 2024 đặt ra những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng đất nhằm đảm bảo khai thác, quản lý và sử dụng nguồn lực đất đai một cách hiệu quả, bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường và hài hòa lợi ích của các chủ thể liên quan. Những nguyên tắc này không chỉ là cơ sở pháp lý bắt buộc đối với người sử dụng đất mà còn thể hiện quan điểm quản lý đất đai theo hướng hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, đúng mục đích sử dụng đất
Nguyên tắc này yêu cầu mọi người sử dụng đất phải thực hiện đúng mục đích mà Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Việc sử dụng đất sai mục đích, chẳng hạn chuyển đất nông nghiệp sang đất ở, đất thương mại hoặc đất phi nông nghiệp khác mà không được phép, không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ra mất cân đối trong quy hoạch và quản lý tài nguyên. Nguyên tắc này đảm bảo sự thống nhất trong quản lý, phân bổ đất đai hợp lý, đồng thời thúc đẩy sử dụng đất hiệu quả theo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia.
Thứ hai, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả
Người sử dụng đất phải khai thác đất và tài nguyên đi kèm một cách tiết kiệm, hợp lý, tránh lãng phí, đồng thời đảm bảo giá trị lâu dài của đất. Nguyên tắc này nhấn mạnh tính bền vững, không chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn mà còn cân nhắc đến tác động lâu dài đối với môi trường, xã hội và nền kinh tế. Việc sử dụng đất một cách hiệu quả còn bao gồm quản lý, bảo dưỡng và khai thác tài nguyên trên bề mặt cũng như trong lòng đất, góp phần tạo nền tảng phát triển ổn định cho các thế hệ sau.
Thứ ba, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ đất, duy trì chất lượng đất, ngăn ngừa ô nhiễm, thoái hóa hoặc suy giảm giá trị đất. Đồng thời, phải hạn chế và không được lạm dụng các loại hóa chất như thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học, tránh gây ô nhiễm môi trường hoặc làm suy giảm độ màu mỡ của đất. Nguyên tắc này còn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu tác động tiêu cực từ thiên tai, hạn hán, lũ lụt hoặc các hiện tượng môi trường bất lợi khác, qua đó đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo vệ môi trường.
Thứ tư, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, tôn trọng quyền lợi hợp pháp của người khác
Người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật liên quan trong thời gian được giao, thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, đặc biệt là người sử dụng đất liền kề và xung quanh. Nguyên tắc này bảo đảm sự công bằng, hài hòa giữa các bên, hạn chế xung đột, tranh chấp và tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho việc quản lý và khai thác đất đai.
Các nguyên tắc trên thể hiện một cách tiếp cận toàn diện trong quản lý đất đai: vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, vừa bảo vệ lợi ích của Nhà nước và cộng đồng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất gắn với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Chúng là cơ sở để các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân áp dụng trong thực tiễn, đồng thời làm cơ sở giải quyết các tranh chấp, điều chỉnh các hành vi sử dụng đất sai quy định.
Kết luận
Quy định về đối tượng áp dụng của Luật Đất đai 2024 có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập phạm vi điều chỉnh của pháp luật đất đai, bảo đảm mọi chủ thể có liên quan đến quản lý, sử dụng đất đều được điều chỉnh thống nhất, rõ ràng và minh bạch. Thông qua việc xác định cụ thể các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến đất đai, Luật đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của từng chủ thể. Qua đó, không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thúc đẩy khai thác, sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.