1. Chứng vụ án hình sự là gì?

Chứng minh vụ án hình sự là một quá trình nhận thức chân lý các sự kiện, tình tiết của vụ án đã xảy ra bên ngoài thế giới khách quan thông qua việc đi tìm chứng cứ chứng minh nó. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức làsự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu

2. Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự (ĐTCM trong VAHS) là gì?

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những sự kiện, tình tiết của vụ án chưa biết nhưng các chủ thể tố tụng mà trước hết là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải biết, phải thu thập chứng cứ để làm rõ, trên cơ sở đó làm sáng tỏ bản chất vụ án và những vấn đề có liên quan nhằm giải quyết đúng đắn toàn bộ vụ án hình sự phù hợp với các quy định của pháp luật.

3. ĐTCM trong VAHS là toàn bộ những sự kiện, tình tiết liên quan đến tội phạm xảy ra trong thực tế

“Tội phạm là hành vi cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan. Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm cũng để lại các dấu vết nhất định. Bằng cách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng con người có thể xác định được sự thật khách quan của vụ án”. Bởi thế, bất kỳ tội phạm nào xảy ra thì bao giờ cũng để lại những dấu vết bên ngoài thế giới khách quan và tất cả những dấu vết ấy trở thành đối tượng của nhận thức, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải nhận thức, thu thập để khôi phụclại toàn bộ sự thật khách quan vụ án đúng như những gì nó đã xảy ra trong thực tế.

Về bản chất, những dấu vết mà tội phạm để lại là những dấu vết được gây ra bởi chủ thể tội phạm, phản ánh toàn bộ diễn biến của hànhvi phạm tội. Nói cách khác, đó là những sự kiện, tình tiết của vụ án, trực tiếp phát sinh từ hành vi phạm tội, như: Sự việc phạm tội; chủ thể thực hiện tội phạm; thời gian, địa điểm phạm tội; phương tiện, công cụ phạm tội; hậu quả thiệt hại do tội phạm gây ra; v.v... Do đó, những sự kiện, tình tiết này là đối tượng chứng minh của quá trình tố tụng. Tuy nhiên, để đạt được mục đích của hoạt động tố tụng thì ngoài việc phải làm rõ những dấu vết, tình tiết nêu trên, những tình tiết khác có liên quan đến vụ án, như: Những tình tiết xác định thẩm quyền điều tra, xét xử vụ án hình sự; những tình tiết xác định mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự; những tình tiết phải chứng minh để làm rõ đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự; v.v... cũng phải được làm rõ. Mặc dù, những tình tiết này không phải là những tình tiết do tội phạm gây ra, không trực tiếp phản ánh diễn biến của hành vi phạm tội nhưng có ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án hình sự; nếu không được chứng minh làm rõ thì việc giải quyết vụ án hình sự sẽ không đảm bảo khách quan, thiếu chính xác hoặc có thể dẫn đến oan, sai nên những tình tiết này cũng là đối tượng chứng minh của quá trình tố tụng. Như vậy, toàn bộ những sự kiện, tình tiết liên quan đến tội phạm xảy ra trong thực tế khách quan là đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án

4. ĐTCM trong VAHS được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự của mỗi nước

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là những vấn đề phải được chứng minh làm rõ trong quá trình chứng minh vụ án nhưng nó chỉ có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể chứng minh khi những vấn đề đó trở thành những vấn đề luật định, vì vậy các nước đều phải quy định đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) của nước mình. “Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại của từng loại dấu vết mà các nhà làm luật quy định trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau để đảm bảo cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án”. Nói cách khác, các dấu vết của tội phạm để lại bên ngoài thế giới khách quan là dấu hiệu nội dung và pháp luật quy định về việc thu thập, bảo quản, đánh giá, sử dụng dấu vết tội phạm trong quá trình chứng minh vụ án là dấu hiệu hình thức. Do đó, quy định của pháp luật về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự một mặt phải căn cứ vào quy định của luật hình sự về tội phạm, hình phạt, đồng thời còn phải dựa vào dấu vết tội phạm để lại trên thực tế và phải phù hợp với thực tiễn đấu tranh, xử lý tội phạm, với các điều kiện kinh tế xã hội mỗi quốc gia ở mỗi thời kỳ, bởi lẽ: “Nguyên nhân xuất hiện pháp luật nằm chính trong các nhu cầu của đời sống con người về kinh tế, văn hóa, xã hội, các quan hệ sở hữu, quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, nhu cầu quản lý xã hội của nhà nước”. Chính vì thế, nội dung và phạm vi đối tượng chứng minh sự khác nhau trong pháp luật mỗi nước và mỗi thời kỳ lịch sử. Có những nước, đối tượng chứng minh được thiết kế bằng một điều luật riêng trong luật tố tụng hình sự, liệt kê những sự kiện, tình tiết phải chứng minh trong vụ án hình sự (Nga, Việt Nam). Chẳng hạn như, Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự Nga năm 2001 quy định những vấn đề phải chứng minh, bao gồm: “Sự kiện phạm tội (thời gian, địa điểm, phương pháp và những tình tiết khác của việc thực hiện tội phạm); lỗi của người thực hiện tội phạm, hình thức lỗi và động cơ phạm tội; những tình tiết về nhân thân bị can; tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; những tình tiết loại trừ tội phạm và hình phạt đối với hành vi; những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng mức hình phạt; những tình tiết có thể dẫn đến việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt”. Có những nước, đối tượng chứng minh không được quy định thành một điều luật riêng mà được quy định một cách chung chung hay gián tiếp trong một số điều luật của luật TTHS (Pháp, Mỹ, Trung Quốc, v.v...). Ví dụ: Khoản 1, Điều 116 Bộ luật TTHS Pháp năm 1996 quy định: “Trong lần hỏi cung đầu tiên, Dự thẩm xác định căn cước của bị can.... Với quy định này thì rõ ràng Dự thẩm phải làm rõ những tình tiết thuộc về nhân thân của bị can trong lần hỏi cung đầu tiên. Như vậy, để đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động chứng minh tội phạm thì mỗi nước đều phải quy định đối tượng chứng minh trong pháp luật TTHS nước mình nhưng nội dung và phạm vi đối tượng chứng minh trong pháp luật TTHS các nước có sự khác nhau.

c. ĐTCM trong VAHS được làm rõ thông qua các chủ thể chứng minh và thủ tục chứng minh do pháp luật TTHS quy định

>> Xem thêm:  Hình sự hóa là gì ? Khái niệm về hình sự hóa được hiểu như thế nào ?

“Sự thật vụ án là mục đích mà bất kỳ mô hình TTHS nào cũng cần hướng tới, cho dù là mô hình TTHS tranh tụng hay mô hình TTHS thẩm vấn. Tuy nhiên, cách thức đi đến sự thật vụ án cũng như trách nhiệm chứng minh sự thật lại khác nhau ở mỗi mô hình TTHS và trong luật TTHS mỗi quốc gia”. Như vậy, mục đích của hoạt động tố tụng là giống nhau nhưng trách nhiệm chứng minh và thủ tục chứng minh trong luật TTHS các nước có sự khác nhau tùy thuộc vào từng mô hình TTHS cụ thể.

Về chủ thể chứng minh vụ án hình sự

Ở những nước theo mô hình TTHS tranh tụng, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội. “Việc tham dự của Luật sư vào mỗi phiên tòa là bắt buộc và tranh luận giữa Luật sư với Công tố viên là hoạt động chủ yếu, trở thành tâm điểm của một phiên tòa”. Nhận định này đã cho thấy, các bên có vai trò ngang nhau trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Để đảm bảo địa vị pháp lý cũng như đảm bảo việc chứng minh tội phạm, các nước theo mô hình TTHS tranh tụng giao trách nhiệm chứng minh tội phạm cho bên buộc tội và bên gỡ tội bằng những quy định cụ thể trong pháp luật TTHS. Ví dụ: Ở Anh, trách nhiệm chứng minh tội phạm của chủ thể buộc tội được quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Điều tra và TTHS năm 1996: “Vì mục đích của Phần này, điều tra hình sự là điều tra do cảnh sát tiến hành nhằm làm rõ...” ; trách nhiệm chứng minh tội phạm của chủ thể gỡ tội được quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Điều tra và TTHS năm 1996: “Khi một người bị cáo buộc về một tội theo điều này, trách nhiệm của người bào chữa phải chứng minh rằng...”. Ở những nước theo mô hình TTHS thẩm vấn hoặc mô hình TTHS đan xen nghiêng về thẩm vấn, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền THTT. “Tố tụng theo mô hình này nghĩa là huy động các cơ quan tố tụng chuyên nghiệp của Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát/Viện công tố, Tòa án) vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, các cơ quan này cùng được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm”. Mặc dù không được coi là một bên tố tụng của vụ án, cũng không được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm nhưng những gì pháp luật TTHS yêu cầu các chủ thể tham gia tố tụng phải thực hiện đều hướng tới việc làm rõ sự thật khách quan vụ án.

Về thủ tục chứng minh vụ án hình sự

Các chủ thể được Nhà nước giao trách nhiệm chứng minh tội phạm phải tiến hành thu thập chứng cứ để làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. “Đối với mỗi chứng cứ, quá trình chứng minh gồm các giai đoạn thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứng cứ”. Nói cách khác, thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ là hoạt động trọng tâm, xuyên suốt của chủ thể chứng minh trong toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm để tái hiện lại toàn bộ vụ án hình sự đúng như thực tế nó đã xảy ra. Chính vì tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động này đối với việc làm sáng tỏ sự thật khách quan vụ án mà các nước, dù theo mô hình TTHS tranh tụng hay theo mô hình TTHS thẩm vấn, đều phải quy định thủ tục chứng minh trong pháp luật TTHS nước mình nhằm tránh sự tùy tiện hay cẩu thả của các chủ thể tố tụng trong quá trình chứng minh giải quyết vụ án. Chứng minh tội phạm bao gồm các hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nên pháp luật TTHS các nước quy định thủ tục chứng minh là các thủ tục tương ứng với các hoạt động trên. Vì pháp luật về chứng cứ ở các nước không giống nhau nên mỗi nước thừa nhậncác loại chứng cứ như thế nào thì quy định thủ tục thu thập phù hợp đối với mỗi loại chứng cứ đó. Ví dụ: Việt Nam thừa nhận lời khai của người làm chứng là chứng cứ nên đã quy định thủ tục lấy lời khai người làm chứng tại Điều 186 và Điều 187 Bộ luật TTHS năm 2015. Bên cạnh đó, thủ tục kiểm tra và thủ tục đánh giá chứng cứ ở các nước cũng có sự khác nhau, bởi vì các thủ tục này được tiến hành ở mỗi nước như thế nào thì lại do mô hình TTHS của nước đó quyết định.

Như vậy, đối tượng chứng minh được chứng minh làm rõ thông qua chủ thể chứng minh và thủ tục chứng minh do pháp luật TTHS của mỗi nước quy định. Tuy nhiên, chủ thể nào có trách nhiệm chứng minh và thủ tục chứng minh nó như thế nào thì lại phụ thuộc vào mô hình TTHS của nước đó.

6. ĐTCM có mối quan hệ chặt chẽ với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh

Đối tượng chứng minh có mối quan hệ chặt chẽ với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh, vì chúng được hình thành trên cơ sở ý chí nhà nước và được quy định trong pháp luật. Hơn nữa, đây không phải là những mối quan hệ thông thường mà là những mối quan hệ này có tính biện chứng, được biểu hiện cụ thể như sau:

- Về mối quan hệ thứ nhất, đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự phải được và chỉ có thể được chứng minh thông qua chủ thể có nghĩa vụ chứng minh do luật TTHS định mà không thể là chủ thể nào khác. Ngược lại, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh chỉ phải chứng minh những sự kiện,tình tiết của vụ án đã được quy định trong pháp luật.

- Về mối quan hệ thứ hai, tương tự như mối quan hệ thứ nhất, đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự phải được và chỉ được làm rõ bằng những biện pháp chứng minh được quy định trong luật TTHS. Điều này đồng nghĩa với việc các chủ thể chứng minh không được phép sử dụng những biện pháp chứng minh “ngoài luật” để làm rõ những sự kiện, tình tiết của vụ án hình sự. Trái lại, những biện pháp chứng minh do luật TTHS quy định chỉ được sử dụng bởi các chủ thể chứng minh để làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án. Những mối quan hệ biện chứng nêu trên đã chỉ ra, muốn bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong TTHS thì phải hoàn thiện pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh và biện pháp chứng minh, bởi lẽ nếu các chủ thể tố tụng chứng minh những sự kiện, tình tiết của vụ án hoặc sử dụng những biện pháp chứng minh chưa được quy định trong luật TTHS thì rõ ràng là vi phạm nguyên tắc pháp chế, nhưng nếu không làm rõ những sự kiện, tình tiết đó hoặc không sử dụng những biện pháp đó thì sẽ không làm sáng tỏ được sự thật khách quan vụ án. Do đó, để đảm bảo các mối quan hệ nêu trên thì các nước trên thế giới đều phải quy định trong pháp luật TTHS nước mình các vấn đề, đó là: Đối tượng chứng minh, nghĩa vụ chứng minh và biện pháp chứng minh. Chẳng hạn như ở Pháp, Bộ luật TTHS năm 1996 có một số điều luật quy định về đối tượng chứng minh (Điều 103, 176), nghĩa vụ chứng minh tội phạm (Điều 53, 54, 56)và biện pháp chứng minh (Điều 55, 56, 116). Như vậy, mối quan hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh là mối quan hệ biện chứng, có tác động quan lại và được luật TTHS quy định. Theo đó, các chủ thểcó nghĩa vụ chứng minh phải áp dụng các biện pháp chứng minh do luật định để làm rõ đối tượng chứng minh. Cũng chính vì được hình thành trên cơ sở luật định nên mối quan hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh là hết sức chặt chẽ.

>> Xem thêm:  Lời nói sau cùng của bị cáo là gì ? Quy định pháp luật về lời nói sau cùng của bị cáo

>> Xem thêm:  Phân tích hiệu lực của bộ luật tố tụng hình sự hiện nay ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chứng minh trong vụ án hình sự được hiểu là như thế nào?

Trả lời:

Chứng minh vụ án hình sự là một quá trình nhận thức chân lý các sự kiện, tình tiết của vụ án đã xảy ra bên ngoài thế giới khách quan thông qua việc đi tìm chứng cứ chứng minh nó. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức làsự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu

Câu hỏi: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự được hiểu là như thế nào?

Trả lời:

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những sự kiện, tình tiết của vụ án chưa biết nhưng các chủ thể tố tụng mà trước hết là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải biết, phải thu thập chứng cứ để làm rõ, trên cơ sở đó làm sáng tỏ bản chất vụ án và những vấn đề có liên quan nhằm giải quyết đúng đắn toàn bộ vụ án hình sự phù hợp với các quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Tại sao lại nói đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là toàn bộ những tình tiết, sự kiện có trong thực tế?

Trả lời:

“Tội phạm là hành vi cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan. Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm cũng để lại các dấu vết nhất định. Bằng cách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng con người có thể xác định được sự thật khách quan của vụ án”. Bởi thế, bất kỳ tội phạm nào xảy ra thì bao giờ cũng để lại những dấu vết bên ngoài thế giới khách quan và tất cả những dấu vết ấy trở thành đối tượng của nhận thức, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải nhận thức, thu thập để khôi phụclại toàn bộ sự thật khách quan vụ án đúng như những gì nó đã xảy ra trong thực tế.

Về bản chất, những dấu vết mà tội phạm để lại là những dấu vết được gây ra bởi chủ thể tội phạm, phản ánh toàn bộ diễn biến của hànhvi phạm tội. Nói cách khác, đó là những sự kiện, tình tiết của vụ án, trực tiếp phát sinh từ hành vi phạm tội, như: Sự việc phạm tội; chủ thể thực hiện tội phạm; thời gian, địa điểm phạm tội; phương tiện, công cụ phạm tội; hậu quả thiệt hại do tội phạm gây ra; v.v... Do đó, những sự kiện, tình tiết này là đối tượng chứng minh của quá trình tố tụng. Tuy nhiên, để đạt được mục đích của hoạt động tố tụng thì ngoài việc phải làm rõ những dấu vết, tình tiết nêu trên, những tình tiết khác có liên quan đến vụ án, như: Những tình tiết xác định thẩm quyền điều tra, xét xử vụ án hình sự; những tình tiết xác định mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự; những tình tiết phải chứng minh để làm rõ đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự; v.v... cũng phải được làm rõ. Mặc dù, những tình tiết này không phải là những tình tiết do tội phạm gây ra, không trực tiếp phản ánh diễn biến của hành vi phạm tội nhưng có ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án hình sự; nếu không được chứng minh làm rõ thì việc giải quyết vụ án hình sự sẽ không đảm bảo khách quan, thiếu chính xác hoặc có thể dẫn đến oan, sai nên những tình tiết này cũng là đối tượng chứng minh của quá trình tố tụng. Như vậy, toàn bộ những sự kiện, tình tiết liên quan đến tội phạm xảy ra trong thực tế khách quan là đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án