Kính chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có được biết Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho người lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid theo Nghị quyết 116. Tôi thấy mọi người nói rằng người lao động nào cũng được hưởng, có đúng như vậy không? Và mức hưởng được tính như thế nào ạ? Rất mong nhận được phản hồi từ công ty. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Thanh Minh – Hà Nam

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý: 

Nghị quyết 116/NQ-CP năm 2021 chính sách hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19

Quyết định 28/2021/QĐ-TTg hướng dẫn Nghị định 116/NQQ-CP

Công văn 3068/BHXH-CSXH hướng dẫn thực hiện Quyết định 28/2021/QĐ-TTg

Nghị quyết 116/NQ-CP năm 2021 được ban hành thể hiện được sự quan tâm, chia sẻ của Đảng, Nhà nước đối với người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

- Góp phần hỗ trợ người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động và thiếu hụt lao động.

- Hỗ trợ người sử dụng lao động giảm chi phí, nỗ lực thích ứng với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động.

- Phát huy vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dựa cho người lao động và người sử dụng lao động.

Trong đó, nhiều người lao động phấn khởi vì dù mức chi trả không quá lớn xong cũng có thêm một khoản nhỏ để trang trải cuộc sống trong giai đoạn khó khăn nên rất mong chờ và không biết mình có được nhận khoản hỗ trợ theo chính sách này hay không. Bời vậy, trong thời gian này Luật Minh Khuê nhận được rất nhiều thắc mắc liên quan tới khoản hỗ trợ này. Để quý khách hàng và người lao động nói chung hiểu rõ hơn về chính sách này, Luật Minh Khuê nghiên cứu và chia sẻ quy định chi tiết về đối tượng được hưởng, điều kiện được hưởng và mức hưởng.

1. Những ai được hỗ trợ theo chính sách của Nghị quyết 116?

Tại Nghị quyết 116/NQ-CP năm 2021 quy định về đối tượng được hưởng như sau:

a) Đối tượng áp dụng

- Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (không bao gồm người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên).

- Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người hưởng lương hưu hàng tháng.

Nội dung này được hướng dẫn tại Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg, theo đó, đối tượng được hưởng sẽ gồm:

(i) Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021.

(ii) Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người hưởng lương hưu hàng tháng.

Trong đó, lưu ý những đối tượng sau đây không được hưởng:

+ Người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.

+ Người lao động đang làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định pháp luật hiện hành về tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Những người tự nguyện không nhận hỗ trợ.

Như vậy, có thể thấy đối tượng mà chính sách hướng tới là người lao động có tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 và người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp (do chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trong thời gian bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch bệnh (1/1/2020-30/9/2021)).

2. Điều kiện để được hưởng hỗ trợ theo Nghị quyết 116 là gì?

Dựa trên cơ sở quy định về đối tượng áp dụng của chính sách có thể thấy, người lao động được hưởng khi đáp ứng một trong hai điều kiện sau đây:

(i) Phải là người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm 30/9/2021 (có tên trong danh sách tham gia BHTN của cơ quan BHXH) hoặc;

(ii) Phải là người lao động đã dừng tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp vì lý do chấm dứt hợp đồng lao động trong khoảng thời gian từ 1/1/2020 đến hết ngày 30/9/2021 và có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu.

2.1. Điều kiện đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Ở điều kiện (i), chỉ cần đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm 30/9/2021 (chỉ cần đóng được 1 tháng) cũng sẽ được xét hưởng theo mức tương ứng. Tuy nhiên phải có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội, quy định này nhằm làm rõ cho những trường hợp doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động dẫn đến người lao động chưa có tên trong danh sách của cơ quan bảo hiểm thất nghiệp, từ đó quy kết trách nhiệm).

2.2. Điều kiện có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu

Ở điều kiện (ii), cần xem xét về vấn đề bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Theo khoản 2 Điều 9 Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH, NLĐ được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo trong các trường hợp sau:

(1) NLĐ không đến nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp;

Ví dụ:  Ông Trần Văn Đ có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 36 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng. Ngày trả kết quả ghi trong phiếu hẹn trả kết quả của ông Đ là ngày 16/3/2015. Tuy nhiên đến hết ngày 18/3/2015 (tức là sau 02 ngày làm việc) ông Đ không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định. Do vậy, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ông Đ không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định, trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông Đ. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông Đ được bảo lưu là 36 tháng.

(2) NLĐ không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp;

Ví dụ: Ông Trần Văn S có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 36 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông S tính từ ngày 20/02/2015 đến ngày 19/5/2015. Tuy nhiên, đến ngày 19/8/2015 (tức là sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp) ông S vẫn không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ ba. Như vậy, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà ông S được bảo lưu là 12 tháng (tương ứng với 01 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp mà ông S không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp).

(3) NLĐ có những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp (có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu);

Ví dụ: Ngày 24/3/2015, ông Trần Quang P chấm dứt hợp đồng lao động. Ông P có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 47 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng (tương ứng với 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp). Do đó, thời gian ông P được bảo lưu là 11 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Sau khi hết thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, ông P giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 03 tháng với doanh nghiệp F (từ ngày 05/9/2015 đến ngày 04/12/2015) và tiếp tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Hết hạn hợp đồng lao động với doanh nghiệp F, ông P nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp lần hai. Như vậy, tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông P là 14 tháng. Nếu đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thì ông P được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian 03 tháng.

(4) NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp:

+ Tìm được việc làm;

+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

+ Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

+ Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

+ Bị tòa án tuyên bố mất tích;

+ Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

Cách tính thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu

Tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH, thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, cụ thể:

Thời gian đóng BHTN được bảo lưu = (Tổng thời gian đóng BHTN - Thời gian đóng BHTN đã hưởng trợ cấp thất nghiệp)

Trong đó, thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo nguyên tắc, mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy, đối với người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động trong khoảng thời gian 1/1/2020 - 30/9/2021 thì xem xét xem mình có còn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đang được bảo lưu hay không.

3. Mức được hưởng theo chính sách hỗ trợ của Nghị quyết 116 là bao nhiêu?

Theo quy định tại Nghị quyết 116 thì mức hỗ trợ sẽ căn cứ trên thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động, cụ thể mức hưởng như sau:

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng: hỗ trợ 1.800.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng: hỗ trợ 2.100.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng: hỗ trợ 2.400.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng: hỗ trợ 2.650.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng: hỗ trợ 2.900.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên: hỗ trợ 3.300.000 đồng/người.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "đối tượng, điều kiện và mức hưởng theo chính sách hỗ trợ của Nghị quyết 116 2021"  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê