1. Đơn vị dự toán ngân sách là gì và vai trò trong hệ thống tài chính công

Đơn vị dự toán ngân sách là một khái niệm quan trọng trong hệ thống quản lý tài chính công của Việt Nam, phản ánh cơ chế Nhà nước giao quyền quản lý và sử dụng ngân sách cho các cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao. Việc xác định đúng đơn vị dự toán không chỉ giúp phân định rõ thẩm quyền quản lý ngân sách mà còn là cơ sở để tổ chức lập dự toán, phân bổ kinh phí, kiểm soát chi và quyết toán ngân sách theo đúng quy định của pháp luật.

Theo khoản 10 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách. Đây là những chủ thể trực tiếp tiếp nhận nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc triển khai các chương trình, dự án theo quy định.

Về bản chất, đơn vị dự toán là chủ thể quản lý hoặc sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được giao của một năm ngân sách. Khái niệm này cần được phân biệt với các chủ thể khác trong hệ thống tài chính công, như:

  • Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyết định dự toán ngân sách.
  • Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan tổ chức giao dự toán theo thẩm quyền.
  • Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước, cơ quan thuế, cơ quan hải quan là các cơ quan quản lý, kiểm soát và tổ chức thực hiện thu, chi ngân sách.
  • Đơn vị dự toán là cơ quan trực tiếp tiếp nhận, quản lý, phân bổ hoặc sử dụng nguồn kinh phí được giao.

Như vậy, đơn vị dự toán không phải là cơ quan quyết định ngân sách mà là chủ thể thực hiện và chấp hành ngân sách theo phạm vi được giao.

Quá trình vận hành của hệ thống dự toán ngân sách được tổ chức theo một quy trình thống nhất. Sau khi Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân thông qua dự toán ngân sách, Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân các cấp sẽ giao dự toán cho các đơn vị dự toán cấp 1. Từ đây, dự toán tiếp tục được phân bổ xuống các đơn vị cấp dưới theo mô hình tổ chức của từng bộ, ngành hoặc địa phương.

Trong quá trình sử dụng kinh phí, các đơn vị dự toán thực hiện lập hồ sơ rút dự toán gửi Kho bạc Nhà nước để kiểm soát chi. Kho bạc Nhà nước chỉ thực hiện thanh toán khi khoản chi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Cơ chế này góp phần bảo đảm việc sử dụng ngân sách đúng mục đích, đúng dự toán và đúng chế độ.

Đơn vị dự toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hệ thống tài chính công.

Trước hết, đây là cầu nối giữa chính sách tài khóa của Nhà nước với hoạt động thực tiễn của các cơ quan, đơn vị. Các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế hay an sinh xã hội chỉ có thể được triển khai thông qua việc phân bổ và sử dụng nguồn ngân sách tại các đơn vị dự toán. Nhờ đó, các quyết định của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được chuyển hóa thành các chương trình, nhiệm vụ và hoạt động cụ thể.

Bên cạnh đó, đơn vị dự toán là chủ thể trực tiếp thực hiện chi ngân sách nhà nước. Các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia hay các nhiệm vụ phát sinh đều được triển khai thông qua các đơn vị này. Hiệu quả sử dụng ngân sách của từng đơn vị sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý tài chính công cũng như chất lượng cung cấp dịch vụ công cho người dân.

Một vai trò quan trọng khác là bảo đảm kỷ luật tài chính và trách nhiệm giải trình. Trong suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành dự toán đến quyết toán ngân sách, các đơn vị dự toán đều phải tuân thủ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, chịu sự kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, cơ quan tài chính, Kiểm toán Nhà nước và sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Điều này góp phần hạn chế thất thoát, lãng phí và nâng cao tính minh bạch trong quản lý ngân sách.

Ngoài ra, đơn vị dự toán còn là đầu mối tổng hợp thông tin tài chính phục vụ công tác quản lý nhà nước. Các báo cáo dự toán, báo cáo quyết toán và báo cáo tài chính của đơn vị là cơ sở để cơ quan tài chính đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách, xây dựng kế hoạch tài chính cho các năm tiếp theo và phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

Trong thực tế, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ, sở, ban, ngành, trường học công lập, bệnh viện công lập và nhiều đơn vị sự nghiệp công lập đều là đơn vị dự toán ở các cấp khác nhau tùy theo cơ cấu tổ chức và quyết định giao dự toán của cấp có thẩm quyền. Việc một đơn vị thuộc cấp dự toán nào không phụ thuộc vào quy mô hay số lượng cán bộ mà phụ thuộc vào cơ quan giao dự toán và mô hình phân cấp quản lý ngân sách của từng ngành hoặc địa phương.

Có thể thấy, đơn vị dự toán ngân sách là nền tảng của cơ chế quản lý ngân sách nhà nước. Thông qua hệ thống này, nguồn lực tài chính công được phân bổ, quản lý và sử dụng theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng mục đích và đúng quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách và bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

 

2. Phân loại các cấp đơn vị dự toán ngân sách nhà nước hiện nay

Hệ thống đơn vị dự toán ngân sách nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc phân cấp quản lý, bảo đảm phù hợp với cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính và trách nhiệm quản lý của từng cơ quan chủ quản. Việc phân cấp này giúp quá trình phân bổ, sử dụng và quyết toán ngân sách được thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cấp trong quản lý tài chính công.

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP và Thông tư số 342/2016/TT-BTC, hệ thống đơn vị dự toán ngân sách được chia thành tối đa bốn cấp, gồm: đơn vị dự toán cấp 1, cấp 2, cấp 3 và cấp 4. Không phải mọi bộ, ngành hoặc địa phương đều phải tổ chức đủ bốn cấp; việc có bao nhiêu cấp phụ thuộc vào mô hình tổ chức và yêu cầu quản lý thực tế.

Đơn vị dự toán cấp 1 là cấp cao nhất trong hệ thống phân cấp dự toán của một bộ, ngành hoặc địa phương. Đây là đơn vị được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp giao dự toán ngân sách. Sau khi tiếp nhận dự toán, đơn vị cấp 1 có trách nhiệm phân bổ kinh phí cho các đơn vị trực thuộc, đồng thời tổng hợp dự toán và quyết toán của toàn hệ thống thuộc phạm vi quản lý.

Đơn vị dự toán cấp 2 là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp 1. Đơn vị này không nhận dự toán trực tiếp từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà nhận kinh phí do đơn vị cấp 1 phân bổ. Trong nhiều bộ, ngành có quy mô lớn, cấp 2 đóng vai trò là cấp quản lý trung gian, tiếp tục giao dự toán cho các đơn vị cấp 3 và kiểm tra việc sử dụng ngân sách của các đơn vị trực thuộc.

Đơn vị dự toán cấp 3 là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 hoặc trực tiếp trực thuộc đơn vị cấp 1 nếu hệ thống không tổ chức cấp 2. Đây là cấp phổ biến nhất trong thực tế vì nhiều trường học, bệnh viện, cục chuyên ngành và đơn vị sự nghiệp công lập được tổ chức ở cấp này. Đơn vị cấp 3 có thể trực tiếp sử dụng ngân sách hoặc tiếp tục phân bổ dự toán cho đơn vị cấp 4 nếu có đơn vị trực thuộc.

Đơn vị dự toán cấp 4 là cấp cuối cùng trong hệ thống phân cấp dự toán. Đây là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách để chi trả lương, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và các khoản chi hoạt động thường xuyên. Đơn vị cấp 4 không có quyền giao dự toán cho đơn vị khác mà chỉ thực hiện quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí theo quy định.

Sự khác nhau giữa các cấp đơn vị dự toán chủ yếu thể hiện ở cơ quan giao dự toán, quyền phân bổ ngân sách và phạm vi trách nhiệm quản lý.

Tiêu chí Đơn vị dự toán cấp 1 Đơn vị dự toán cấp 2 Đơn vị dự toán cấp 3 Đơn vị dự toán cấp 4
Cơ quan giao dự toán Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND các cấp Đơn vị dự toán cấp 1 Đơn vị dự toán cấp 2 hoặc cấp 1 Đơn vị dự toán cấp 3
Quyền phân bổ dự toán Phân bổ cho cấp dưới trực thuộc Phân bổ cho cấp 3 Phân bổ cho cấp 4 nếu có Không có quyền phân bổ
Vai trò Đầu mối quản lý toàn hệ thống Quản lý trung gian Đơn vị trực tiếp sử dụng hoặc quản lý cấp dưới Đơn vị sử dụng ngân sách cuối cùng
Trách nhiệm quyết toán Tổng hợp toàn hệ thống Tổng hợp trong phạm vi quản lý Quyết toán trực tiếp hoặc tổng hợp cấp dưới Lập quyết toán gửi cấp trên

Trong thực tiễn, mỗi bộ, ngành hoặc địa phương có thể tổ chức hệ thống dự toán theo những mô hình khác nhau.

Mô hình hai cấp thường áp dụng đối với các hệ thống có quy mô quản lý gọn. Khi đó, đơn vị dự toán cấp 1 sẽ trực tiếp giao dự toán cho đơn vị cấp 3 mà không tổ chức cấp 2. Chẳng hạn, một số sở chuyên môn của địa phương giao dự toán trực tiếp cho các trường trung học phổ thông trực thuộc.

Mô hình ba cấp được áp dụng phổ biến tại nhiều bộ, ngành trung ương. Theo mô hình này, đơn vị dự toán cấp 1 phân bổ dự toán cho đơn vị cấp 2, sau đó đơn vị cấp 2 tiếp tục giao dự toán cho đơn vị cấp 3.

Mô hình bốn cấp thường xuất hiện trong các ngành có hệ thống tổ chức dọc và nhiều cấp quản lý như thuế, hải quan hoặc kiểm lâm. Khi đó, ngân sách được phân bổ tuần tự từ cấp 1 xuống cấp 2, cấp 3 và cuối cùng đến cấp 4 là đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí.

Một số ví dụ thực tế giúp dễ hình dung về hệ thống phân cấp dự toán:

  • Bộ Tài chính hoặc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp tỉnh thường là đơn vị dự toán cấp 1.
  • Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan hoặc Tổng cục Thống kê thường là đơn vị dự toán cấp 2.
  • Cục Thuế cấp tỉnh, Cục Hải quan tỉnh hoặc trường đại học trực thuộc bộ thường là đơn vị dự toán cấp 3.
  • Chi cục Thuế, Chi cục Hải quan khu vực hoặc hạt kiểm lâm thường là đơn vị dự toán cấp 4.

Có thể thấy, việc phân chia các cấp đơn vị dự toán không nhằm xác định vị trí hành chính của cơ quan mà chủ yếu phục vụ công tác quản lý ngân sách. Mỗi cấp đều có quyền hạn và trách nhiệm riêng trong việc tiếp nhận, phân bổ, sử dụng và quyết toán ngân sách, qua đó hình thành một hệ thống quản lý tài chính công thống nhất, minh bạch và bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước.

 

3. Đặc điểm chi tiết của đơn vị dự toán cấp 1, cấp 2, cấp 3 và cấp 4

Mỗi cấp đơn vị dự toán trong hệ thống ngân sách nhà nước được giao những quyền hạn và trách nhiệm khác nhau nhằm bảo đảm quá trình phân bổ, sử dụng và quyết toán ngân sách diễn ra thống nhất, minh bạch và đúng quy định. Việc phân chia thành các cấp không chỉ phản ánh mối quan hệ quản lý giữa các cơ quan mà còn xác định rõ phạm vi chịu trách nhiệm của từng đơn vị trong toàn bộ chu trình ngân sách.

Đơn vị dự toán cấp 1

Đơn vị dự toán cấp 1 là cấp cao nhất trong hệ thống phân cấp dự toán của một bộ, ngành hoặc địa phương. Theo khoản 9 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, đây là đơn vị được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp giao dự toán ngân sách.

Ở cấp trung ương, đơn vị dự toán cấp 1 thường là các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan trung ương khác. Tại địa phương, đó có thể là các sở, ban, ngành hoặc cơ quan chuyên môn được Ủy ban nhân dân cùng cấp giao dự toán trực tiếp.

Đơn vị dự toán cấp 1 có phạm vi quản lý rộng nhất trong hệ thống và giữ vai trò đầu mối điều hành tài chính của toàn ngành hoặc toàn lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý. Sau khi được giao dự toán, đơn vị có trách nhiệm phân bổ kinh phí cho các đơn vị trực thuộc, bảo đảm phù hợp với tổng mức dự toán và cơ cấu chi được cấp có thẩm quyền quyết định.

Bên cạnh nhiệm vụ phân bổ dự toán, đơn vị cấp 1 còn có trách nhiệm:

  • Hướng dẫn các đơn vị trực thuộc lập dự toán ngân sách.
  • Kiểm tra việc chấp hành dự toán của các đơn vị cấp dưới.
  • Xét duyệt quyết toán đối với các đơn vị trực thuộc theo quy định.
  • Tổng hợp dự toán và quyết toán của toàn hệ thống để gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
  • Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước về việc quản lý và sử dụng ngân sách của toàn ngành hoặc toàn lĩnh vực.

Trong nhiều trường hợp, đơn vị dự toán cấp 1 đồng thời cũng trực tiếp sử dụng một phần kinh phí được giao để duy trì hoạt động của chính cơ quan mình. Đây là trường hợp thường được gọi là đơn vị dự toán cấp 1 kiêm đơn vị sử dụng ngân sách.

Một số ví dụ điển hình gồm Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài chính hoặc các sở chuyên môn được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao dự toán trực tiếp.

Đơn vị dự toán cấp 2

Đơn vị dự toán cấp 2 là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp 1 và nhận dự toán do đơn vị cấp 1 phân bổ. Khác với cấp 1, đơn vị cấp 2 không được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao dự toán trực tiếp.

Vai trò của cấp 2 chủ yếu là cấp quản lý trung gian trong các bộ, ngành hoặc tổ chức có cơ cấu nhiều tầng quản lý. Sau khi nhận dự toán từ cấp 1, đơn vị cấp 2 tiếp tục phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc.

Ngoài nhiệm vụ phân bổ kinh phí, đơn vị cấp 2 còn thực hiện nhiều nhiệm vụ quản lý như:

  • Hướng dẫn đơn vị cấp 3 lập dự toán ngân sách.
  • Theo dõi việc sử dụng kinh phí của các đơn vị trực thuộc.
  • Kiểm tra việc thực hiện chế độ tài chính, kế toán.
  • Xét duyệt quyết toán của các đơn vị cấp 3.
  • Tổng hợp quyết toán của toàn khối để báo cáo đơn vị cấp 1.

Đơn vị dự toán cấp 2 thường xuất hiện tại các ngành có hệ thống tổ chức theo mô hình dọc trên phạm vi cả nước.

Ví dụ phổ biến gồm Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê hoặc các tổng cục trực thuộc bộ.

Đơn vị dự toán cấp 3

Đơn vị dự toán cấp 3 là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 hoặc trực tiếp trực thuộc đơn vị cấp 1 nếu hệ thống không tổ chức cấp 2.

Đây là cấp dự toán phổ biến nhất trong thực tiễn vì nhiều cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp công lập và cơ sở giáo dục được tổ chức ở cấp này.

Đơn vị cấp 3 có thể hoạt động theo hai mô hình.

Trường hợp thứ nhất, nếu có đơn vị cấp 4 trực thuộc thì đơn vị cấp 3 vừa trực tiếp sử dụng ngân sách, vừa tiếp tục phân bổ dự toán cho các đơn vị cấp 4.

Trường hợp thứ hai, nếu không có đơn vị cấp 4 thì đơn vị cấp 3 là đơn vị sử dụng ngân sách cuối cùng, trực tiếp mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, thực hiện rút dự toán, thanh toán các khoản chi và lập báo cáo quyết toán theo quy định.

Các nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị cấp 3 gồm:

  • Tiếp nhận dự toán từ đơn vị cấp trên.
  • Quản lý và sử dụng ngân sách đúng mục đích.
  • Phân bổ dự toán cho đơn vị cấp 4 nếu có.
  • Lập báo cáo quyết toán gửi đơn vị cấp trên.
  • Chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí được giao.

Ví dụ về đơn vị dự toán cấp 3 gồm Cục Thuế tỉnh, Cục Hải quan tỉnh, Cục Kiểm lâm, các trường đại học công lập trực thuộc bộ hoặc các bệnh viện trực thuộc bộ, ngành.

Đơn vị dự toán cấp 4

Đơn vị dự toán cấp 4 là cấp cuối cùng trong hệ thống phân cấp dự toán ngân sách.

Theo quy định về hạch toán ngân sách và hướng dẫn của Bộ Tài chính, đây là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp 3, đồng thời là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách mà không có đơn vị dự toán cấp dưới.

Đơn vị cấp 4 không có quyền phân bổ hay giao dự toán cho bất kỳ đơn vị nào khác. Toàn bộ nhiệm vụ của đơn vị tập trung vào việc quản lý và sử dụng kinh phí được giao đúng mục đích, đúng chế độ và đúng định mức.

Các nhiệm vụ cơ bản của đơn vị cấp 4 gồm:

  • Tiếp nhận dự toán từ đơn vị cấp trên.
  • Thực hiện chi trả lương, phụ cấp và các khoản chi thường xuyên.
  • Thanh toán kinh phí qua Kho bạc Nhà nước.
  • Quản lý chứng từ, sổ sách kế toán.
  • Lập báo cáo quyết toán gửi đơn vị dự toán cấp 3.

Ví dụ điển hình gồm Chi cục Thuế khu vực, Chi cục Hải quan cửa khẩu, Chi cục Kiểm lâm hoặc Hạt Kiểm lâm.

Có thể thấy, mặc dù quyền hạn của đơn vị cấp 4 thấp hơn các cấp còn lại, nhưng đây lại là cấp trực tiếp thực hiện các hoạt động chi ngân sách nên có vai trò quyết định đến hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công.

 

4. Cách xác định đơn vị dự toán của cơ quan, tổ chức, trường học

Việc xác định một cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị sự nghiệp thuộc cấp dự toán nào không căn cứ vào số lượng cán bộ, quy mô tổ chức hay cấp hành chính, mà chủ yếu dựa trên quyết định giao dự toán của cơ quan có thẩm quyền và mô hình tổ chức quản lý ngân sách của từng bộ, ngành hoặc địa phương.

Nguyên tắc quan trọng nhất là xác định đơn vị trực tiếp giao dự toán ngân sách.

Nếu cơ quan được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao dự toán trực tiếp thì đó là đơn vị dự toán cấp 1.

Nếu nhận dự toán từ đơn vị dự toán cấp 1 thì thông thường là đơn vị dự toán cấp 2 hoặc cấp 3, tùy thuộc vào mô hình tổ chức.

Nếu nhận dự toán từ đơn vị dự toán cấp 3 và không có đơn vị trực thuộc thì thường là đơn vị dự toán cấp 4.

Ngoài quyết định giao dự toán, việc xác định còn phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức quản lý của từng ngành.

Đối với các bộ, ngành trung ương:

  • Bộ và cơ quan ngang bộ thường là đơn vị dự toán cấp 1.
  • Các tổng cục trực thuộc bộ thường là đơn vị dự toán cấp 2.
  • Các cục trực thuộc tổng cục thường là đơn vị dự toán cấp 3.
  • Các chi cục trực thuộc cục thường là đơn vị dự toán cấp 4.

Đối với hệ thống giáo dục:

  • Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ giao dự toán trực tiếp nên là đơn vị dự toán cấp 1.
  • Nhiều trường đại học công lập trực thuộc bộ thường là đơn vị dự toán cấp 3.
  • Sở Giáo dục và Đào tạo là đơn vị dự toán cấp 1 của địa phương.
  • Trường trung học phổ thông công lập thường là đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo.
  • Trường trung học cơ sở, tiểu học và mầm non công lập có thể thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện, tùy theo mô hình phân cấp của từng địa phương.

Đối với ngành y tế:

  • Bộ Y tế là đơn vị dự toán cấp 1.
  • Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế thường là đơn vị dự toán cấp 3.
  • Sở Y tế là đơn vị dự toán cấp 1 của địa phương.
  • Bệnh viện đa khoa tỉnh thường là đơn vị dự toán cấp 3.
  • Trung tâm Y tế cấp huyện được xác định theo cơ quan chủ quản trực tiếp của từng địa phương.

Do đó, để xác định chính xác cấp dự toán của một đơn vị, cần căn cứ vào quyết định giao dự toán ngân sách hằng năm, cơ quan chủ quản trực tiếp và mô hình phân cấp quản lý ngân sách đang được áp dụng.

 

5. Những lưu ý quan trọng về trách nhiệm và quyền hạn của các đơn vị dự toán

Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, mọi đơn vị dự toán đều phải thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm trong toàn bộ chu trình quản lý ngân sách, từ lập dự toán đến quyết toán ngân sách.

Trước hết, thủ trưởng đơn vị dự toán có trách nhiệm tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách hằng năm và kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn theo quy định. Việc lập dự toán phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và phù hợp với nhiệm vụ được giao.

Đối với các đơn vị dự toán cấp trên, trách nhiệm quan trọng là phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc đúng tổng mức, đúng thời hạn và đúng mục tiêu sử dụng ngân sách.

Trong quá trình chấp hành dự toán, các đơn vị sử dụng ngân sách phải thực hiện kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước. Hồ sơ thanh toán phải đầy đủ, hợp pháp và đáp ứng các điều kiện chi theo quy định. Đối với các khoản phải thực hiện cam kết chi, đơn vị cần gửi hồ sơ đến Kho bạc Nhà nước trong thời hạn theo quy định hiện hành.

Bên cạnh việc sử dụng kinh phí đúng mục đích, các đơn vị còn phải thực hiện công khai ngân sách theo Điều 15 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Nội dung công khai bao gồm dự toán, tình hình thực hiện và quyết toán ngân sách theo phạm vi được pháp luật quy định.

Hoạt động quản lý và sử dụng ngân sách của đơn vị còn chịu sự giám sát của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan thanh tra và cộng đồng theo Điều 16 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

Đối với công tác quyết toán, Thông tư số 137/2017/TT-BTC quy định rõ hai hoạt động là xét duyệt quyết toán và thẩm định quyết toán.

Xét duyệt quyết toán do đơn vị dự toán cấp trên thực hiện đối với đơn vị trực thuộc nhằm kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của chứng từ, đối chiếu số liệu dự toán với số thực chi và xác nhận kết quả quyết toán.

Thẩm định quyết toán do cơ quan tài chính cùng cấp thực hiện đối với báo cáo quyết toán của đơn vị dự toán cấp 1 trước khi tổng hợp vào quyết toán ngân sách nhà nước.

Đối với đơn vị dự toán cấp 1 không có đơn vị trực thuộc, cơ quan tài chính cùng cấp sẽ trực tiếp thực hiện việc xét duyệt hoặc thẩm định theo quy định hiện hành.

 

6. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về phân cấp dự toán ngân sách

Hệ thống đơn vị dự toán có bắt buộc phải đủ cả bốn cấp không?

Không. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 chỉ quy định khung phân cấp tối đa gồm bốn cấp. Tùy theo quy mô tổ chức và yêu cầu quản lý của từng bộ, ngành hoặc địa phương, hệ thống có thể chỉ tổ chức hai cấp hoặc ba cấp.

Ví dụ, một sở có thể giao dự toán trực tiếp cho các trường trung học phổ thông mà không tổ chức đơn vị dự toán cấp 2. Ngược lại, các ngành có hệ thống quản lý dọc như thuế hoặc hải quan thường tổ chức đủ nhiều cấp để thuận lợi cho công tác quản lý.

Đơn vị dự toán cấp 1 kiêm đơn vị sử dụng ngân sách được hiểu như thế nào?

Đây là trường hợp đơn vị dự toán cấp 1 vừa thực hiện chức năng quản lý, phân bổ dự toán cho các đơn vị trực thuộc, vừa trực tiếp sử dụng một phần kinh phí được giao để phục vụ hoạt động của chính cơ quan mình.

Ví dụ, Bộ hoặc Sở vừa giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc, vừa sử dụng ngân sách để chi cho hoạt động của văn phòng cơ quan.

Đơn vị dự toán và đơn vị kế toán có phải là một không?

Không hoàn toàn.

Đơn vị dự toán là khái niệm thuộc lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước, thể hiện quyền tiếp nhận, phân bổ và sử dụng dự toán ngân sách.

Trong khi đó, đơn vị kế toán là khái niệm thuộc Luật Kế toán, chỉ chủ thể có tổ chức kế toán riêng, thực hiện hạch toán, mở sổ kế toán, lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán.

Trong thực tế, phần lớn đơn vị dự toán đồng thời cũng là đơn vị kế toán. Tuy nhiên, vẫn có những đơn vị kế toán phụ thuộc chỉ thực hiện công tác hạch toán nội bộ mà không phải là đơn vị dự toán độc lập.

Cơ quan có quy mô lớn hơn thì có phải luôn là đơn vị dự toán cấp cao hơn không?

Không. Cấp dự toán không phụ thuộc vào quy mô nhân sự, phạm vi hoạt động hay cấp hành chính của cơ quan mà phụ thuộc vào quyết định giao dự toán và mô hình phân cấp quản lý ngân sách của cơ quan chủ quản.

Do đó, để xác định chính xác cấp dự toán của một cơ quan, tổ chức hoặc trường học cần căn cứ vào quyết định giao dự toán hằng năm và cơ cấu tổ chức tài chính của bộ, ngành hoặc địa phương quản lý đơn vị đó.

Quý bạn đọc cũng có thể xem thêm một số nội dung khác về đơn vị dự toán như: