1. Các nước phát triển có thể được ưu đãi mức thuế xuất nhập khẩu thấp hơn

Trong khi thương mại khu vực là một phương tiện để cải tiến thị phần trên căn bản ưu đãi, trong thời kỳ này bên trong tổ chức GATT vốn không phân biệt đối xử cũng đã ra đời một số điều kiện thuận lợi cho các mối quan tâm của các nước đang phát triển. Điều kiện quan trọng nhất, được ban hành năm 1971 (với sự xúi giục của UNCTAD) là sự từ bỏ các nguyên tắc không phân biệt đối xử của GATT với sự ra đời của Hệ thống Ưu đãi Chung (Generalized System of Preferences - GSP). Theo thỏa thuận này, một quốc gia phát triển được quyền đưa ra cho một quốc gia đang phát triển một mức thuế nhập khẩu thấp hơn so với mức thuế được đưa ra cho các quốc gia phát triển khác. Nếu không có sự từ bỏ này thì một sự phân biệt đối xử như vậy là vi phạm rõ ràng nguyên tắc về quy chế tối huệ quốc. Trong thực tế, quốc gia cung ứng thuế suất ưu đãi ưu ái cho nền công nghiệp của các nước đang phát triển được hưởng lợi từ cái giá phải trả của nền công nghiệp (có thể là có hiệu năng hơn) của một đối tác thương mại là quốc gia đã phát triển. Nhưng nhân danh sự phát triển kinh tế, ngoại lệ này được chấp nhận rộng rãi và từ đó đến nay phần lớn các nước phát triển đã cung ứng nhiều hình thức ưu đãi thuế quan GSP cho các nước đang phát triển. Tất nhiên là sự cung ứng GSP này đã trở nên kém quan trọng vì mức thuế tổng quát và các rào cản thương mại đã được hạ thấp rất đáng kể.

2. Các nước đang phát triển được đối xử đặc biệt hơn

Sự dàn xếp này cũng được kéo dài thông qua “điều khoản trao quyền” năm 1979 - một quyết định về sự đối xử ưu ái và có phân biệt đối với các nước đang phát triển. Quyết định này được thiết kế không chỉ để chuẩn thuận sự thiên vị mà còn để khẳng định lại lập trường ban đầu là các nước phát triển không nên mong đợi các nước đang phát triển nhân nhượng về thuế quan theo kiểu có đi có lại, và họ phải thực hiện “sự kiềm chế tối đa” trong việc tìm kiếm sự nhân nhượng hoặc sự đóng góp không phù hợp với nhu cầu thương mại và tài chính của các quốc gia đang phát triển. Nhưng điều kiện thuận lợi quan trọng nhất là ẩn ý ngầm trong quan niệm về các thỏa thuận được sắp sẵn (a la carte) được tích hợp trong gói giải pháp của Vòng Tokyo. Việc chấp nhận các thỏa thuận này là có tính tự nguyện và chúng chỉ áp dụng đối với hoạt động thương mại giữa các nước đã ký kết. Bởi vì các nước phát triển gần như đều muốn chấp nhận các thỏa thuận này, GATT bỗng trở thành một định chế “nhiều tốc độ” trong đó các quốc gia phát triển chấp nhận những hạn chế nghiêm khắc hơn là các quốc gia đang phát triển. Ở một số khía cạnh nào đó, sự phân biệt đối xử có tính tích cực này phù hợp với triết lý phát triển của thời đại, theo đó các nước đang phát triển nghĩ rằng con đường tốt nhất để phát triển có liên quan tới sự bảo hộ đáng kể và sự tham gia của chính phủ vào sự bảo hộ dành cho các ngành công nghiệp của quốc gia được xây dựng để thay thế hàng nhập khẩu. Nhưng cái “GATT sắp sẵn” này che giấu một sự phân biệt đối xử thực tế dựa trên vấn đề chính được đem ra thương thảo. Nó dành cho các nước đang phát triển rất ít công cụ để đòi hỏi tự do hóa trong các lĩnh vực mà các nước này có lợi thế xuất khẩu nhất chẳng hạn như nông nghiệp và dệt may.

3. Giai đoạn 1980-1990, Xu hướng cải cách kinh tế mới

Trong lúc các quy tắc thương mại có tính phân biệt đối xử được đưa lên hàng đầu chương trình nghị sự về thương mại cho những người ôm ấp quan điểm về sự phụ thuộc khi nhìn thế giới, chúng đã trở thành ít quan trọng hơn trong thập niên 1980 và 1990 khi một hệ ý thức thay thế - được biết tới dưới tên gọi sự đồng thuận Washington, sinh ra để thống trị tư duy và thực tiễn về phát triển. Cái logic kinh tế mới nhấn mạnh rằng sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế quốc gia thường gây tổn thương, điều quan trọng là để cho thị trường quyết định giá cả, và thương mại tự do thì dễ hỗ trợ phát triển kinh tế hơn là sự thay thế nhập khẩu tuyệt đối. Điều này đã đảo ngược hoàn toàn mô hình chính sách thương mại và dẫn tới một lập trường khác hẳn về phát triển kinh tế và thương mại quốc tế.

Có một số yếu tố nâng đỡ cho sự đung đưa mang tính triết lý này. Có lẽ trực tiếp nhất là cuộc khủng hoảng nợ nần của Mexico năm 1982 khi thu nhập từ xuất khẩu (nhất là xuất khẩu dầu thô) sụt giảm và cúng lúc đó lãi suất cho vay thế giới tăng làm cho nước này (và nhiều nước khác nữa) gặp khó khăn hơn trong việc đáp ứng nghĩa vụ trả nợ. Lãi suất cao càng làm trầm trọng hơn “vấn đề nợ nước ngoài”của khu vực và dịch vụ nợ bắt đầu giành phần càng ngày càng lớn trong thu nhập từ xuất khẩu. Điều này làm cho Mexico không thể tiếp tục chính sách hỗ trợ tài chính từ chính phủ cho các doanh nghiệp công tư hợp doanh của đất nước bằng cách vay mượn trên các thị trường tài chính quốc tế - một chính sách đã từng là nền tảng cho phần lớn các nỗ lực phát triển do khối kinh tế công cộng dẫn dắt trong thập niên 1970. Hơn thế nữa, sự đồng thuận Washington có vẻ như được nâng đỡ bởi sự kiện này. Những “con hổ” Đông Á như Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan vốn phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu, thật sự đạt được những thành công lớn lao hơn so với các nước tự túc tự cấp. Vào cuối giai đoạn này sự phá sản của những mô hình phát triển do nhà nước quản lý theo kiểu cộng sản chủ nghĩa đã cho thấy thêm nhiều bằng chứng về lợi ích của các chính sách kinh tế tự do.

4. Các nước kém phát triển chấp nhận "đồng thuận Washington"

Sự yếu kém về kinh tế của các quốc gia đang phát triển như là kết quả của gánh nặng nợ nần cũng khuyến khích họ chấp nhận sự đồng thuận Washington bởi vì đó là học thuyết kinh tế chính thống được sự ủng hộ mạnh mẽ của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Các quốc gia đã phải tìm tới sự giúp đỡ của các định chế này, còn những định chế tài chính này nói chung thường đòi hỏi những chính sách phù hợp với sự đồng thuận Washington như là một điều kiện để cung cấp sự giúp đỡ. Những định chế quốc tế này - và nhiều tổ chức khác nữa - được nâng đỡ trong học thuyết chính thống của họ nhờ sự vươn tới quyền lực của Ronald Reagan ở Washington và Margaret Thatcher ở Luân Đôn - guồng máy chính quyền của các vị này tán thành các nguyên tắc kinh tế của chủ nghĩa bảo thủ và áp dụng chúng trong chính trị quốc tế của họ.

Trong mô thức mới mẻ này, các quốc gia đã tự mở ra cho thương mại quốc tế vì cả hai lý do; bởi vì một chính sách như vậy là yêu cầu của các định chế tài chính quốc tế như là một điều kiện để được vay tiền, và cũng bởi vì các quốc gia kỳ vọng rằng sự mở cửa như vậy sẽ giúp họ giành được vốn đầu tư của các công ty từ các nước phát triển. Và như thế nhiều quốc gia đang phát triển đã mở cửa thị trường của mình cho hàng hóa của thế giới phát triển, không chỉ theo một thỏa thuận có đi có lại trong khuôn khổ GATT mà như là một điều kiện để nhận được tiền vay của WB và IMF. Giờ đây doanh nghiệp của các nước phát triển đã đầu tư và thiết lập các mạng lưới sản xuất xuyên quốc gia, không chỉ để phục vụ thị trường địa phương mà còn để phục vụ thị trường toàn cầu. Lợi thế so sánh của công cuộc sản xuất ở hải ngoại đó thường dựa trên mức lương thấp của những công nhân bản xứ được tuyển dụng. Trong giai đoạn sau của thời kỳ này đã nổi lên một thế hệ mới các dàn xếp khu vực như là Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA); trong đó các quốc gia đang phát triển tham gia vào các thỏa thuận thương mại ưu đãi để giành lấy quyền tiếp cận miễn thuế vào một thị trường đã phát triển nào đó của thế giới, chẳng hạn như Hoa Kỳ.

5. Mexico - một minh chứng cho sự thay đổi theo "đồng thuận Washington"

Những khuynh hướng này có thể được thấy rõ trong cuộc hành trình kinh tế của Mexico. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này Mexico là một trong các quốc gia có thu nhập trung bình, được bảo hộ kỹ nhất, tự cấp tự túc và tập trung vào các cơ quan nhà nước. Khi các vị lãnh đạo của nước này tìm cách mở cửa hệ thống kinh tế, họ cố gắng làm cho tiến trình này không thể đảo ngược được bằng cách tham gia vào các cam kết quốc tế. Và như vậy Mexico gia nhập GATT năm 1986 - một quyết định phản ánh một sự chia tay sâu sắc với những chính sách trước đó của quốc gia này. Và rồi năm 1990, lãnh đạo Mexico quyết định tiến hành đàm phán một hiệp ước thương mại tự do với Hoa Kỳ, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Trong số những thỏa hiệp càn bản được thể hiện trong NAFTA có sự hợp tác để lập một thời gian biểu cho việc mở cửa thị trường hàng hóa nông sản của Mexico cho sự cạnh tranh của Hoa Kỳ trong khi khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ vào Mexico với tốc độ tăng trưởng, mà nếu mọi việc diễn ra đúng dự kiến, sẽ có thể tạo ra một khối lượng công việc làm mới đủ để tiếp nhận những người về mặt kinh tế đã phải chuyển ra khỏi vùng nông thôn do hàng nông sản nhập khẩu từ Mỹ gây ra. Cũng đã có những kỳ vọng rằng các mặt hàng nông sản đặc biệt xuất khẩu vào Hoa Kỳ có thể làm dịch chuyển những nhà trồng trọt ở California và Florida. Và trong quá trình này Mexico tư nhân hóa nhiều doanh nghiệp công cộng trong lĩnh vực ngân hàng, viễn thông và các tập đoàn vận tải - một số các doanh nghiệp này bán phần lớn cổ phần cho các công ty Mỹ. Kết quả là đã có một sự thay đổi lớn lao trong hệ thống kinh tế quốc dân của Mexico, được tiếp nối sau đó bằng một sự cởi mở cũng ngoạn mục như vậy trong hệ thống chính trị của đất nước.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)