1. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền biểu hiện tập trung của một chế độ dân chủ

Những đặc trưng này được xem là các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị - pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởng chính trị - pháp lý nhân loại.

Các giá trị phổ biến này được trình bày dưới các dạng thức khác nhau bởi các nhà lý luận, phục thuộc vào lập trường chính trị - pháp lý và quan điểm học thuật của từng người. Các trình bày có thể khác nhau, song về bản chất có thể quy về các giá trị có tính tổng quát sau:

-  Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước.

 Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện.

- Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. - Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. - Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội.

- Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội. - Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp. - Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng. Mô hình quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm.

- Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực. Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.

-  Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp.

+ Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh.

+ Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc và chủ thể của các hành vi này.

+  Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

-  Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội.

+ Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được xác định bởi tính chất, trình độ của các mô hình kinh tế thị trường, theo hướng Nhà nước tôn trọng, phát huy các quy luật khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các quan hệ kinh tế, đồng thời khắc phục, hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường.

+  Trong mối quan hệ với xã hội, Nhà nước thông qua luật pháp để quản lý xã hội, tôn trọng đề cao vị trí, vai trò và quyền tự chủ (tự quản) của các cấu trúc xã hội (các tổ chức xã hội, các cộng đồng xã hội).

+ Mối quan hệ giữa Nhà nước, kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác, quy định và chi phối lẫn nhau. Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội. Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hội trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật

2. Nhiệm vụ của luật Hình sự

Luật Hình sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và những người thực hiện tội phạm bằng việc quy định phạm vi những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hình phạt đối với các tội phạm cũng như các vấn đề liên quan đến việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt. 
Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, Luật Hình sự có vị trí rất quan trọng. Một mặt luật hình sự bảo vệ các quan hệ khác nhau của đời sống xã hội có tầm quan trọng nhất thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Mặt khác, Luật Hình sự điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội xuất hiện do người này thực hiện tội phạm. Xác lập và điều chỉnh hệ thống các quan hệ có lợi cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Nhà nước phải bảo đảm cho các quan hệ đó được tôn trọng và phát triển thuận lợi bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp Pháp luật hình sự là không thể thiếu được. Trong bất cứ giai đoạn nào, luật hình sự luôn là lĩnh vực pháp luật có vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật cũng như trong việc bảo vệ chế độ, bảo vệ trật tự xã hội. Thậm chí, có những thời kỳ luật hình sự được quan tâm xây dựng chỉ sau Hiến pháp
Xác định nhiệm vụ cho một đạo luật nói chung và cho Bộ luật Hình sự nói riêng là một vấn đề rất quan trọng. Theo Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 2015 có nêu lên nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự: “Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.”
Theo đó, Bộ luật Hình sự có ba nhiệm vụ:
Thứ nhất, Bảo vệ các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng: bảo vệ chế độ; bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; bảo vệ trật tự pháp luật XHCN
Thứ hai, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Thứ ba, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Tương ứng với ba nhiệm vụ đó là ba chức năng quan trọng của Luật Hình sự đó là chức  năng bảo vệ, chức năng phòng ngừa và chức năng giáo dục.
 

3. Vai trò của Bộ luật Hình sự trong xây dựng Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền (NNPQ) là một mô hình tổ chức nhà nước chống lại sự lạm quyền, đề cao, bảo vệ và tôn trọng các quyền con người. Quá trình xây dựng NNPQ đòi hỏi chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật. 
NNPQ yêu cầu chính quyền phải chịu sự ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ con người, tư pháp là lĩnh vực có chức năng đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và bảo vệ con người. Do đó, việc xây dựng NNPQ không thể tách rời với quá trình xây dựng, cải cách nền tư pháp, hướng tới một nền tư pháp công minh, độc lập, hiệu quả, bảo vệ các quyền con người. Chính vì vậy, để xây dựng thành công NNPQ ở Việt Nam, chúng ta cần phải đẩy mạnh CCTP nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người- một giá trị không thể thiếu của NNPQ.Công cuộc CCTP trong bối cảnh xây dựng NNPQ đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết trên phương diện chính trị - pháp lý. Quá trình này đòi hỏi phải tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người với tính chất là các giá trị xã hội cao quí, được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại, nếu như không được bảo vệ bằng hệ thống toà án công minh, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thì khó có thể xây dựng thành công NNPQ. 
Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế hiện nay, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật nước ta luôn đề cao các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Chính vì vậy, nhiệm vụ, chức năng của Luật Hình sự cũng cần phải hội nhập để phù hợp với tình hình thực tế. Dự thảo BLHS năm 2015 lại quy định là bảo vệ “Quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân”. Điều này thể hiện sự phù hợp với tinh thần của Hiến Pháp mới về việc tiếp tục ghi nhận và bảo vệ mạnh mẽ hơn nữa quyền con người; cũng là xu thế chung của thế giới với việ xây dựng nhà nước pháp quyền. 
Trong vấn đề cải cách tư pháp, Bộ luật hình sự cần thể hiện rõ hơn nữa vai trò của mình, đảm bảo sự thực thi cao nhất tính pháp chế và hiệu quả trực tiếp của pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng nhiều vấn đề đang còn là tranh cãi trong quá trình soạn thảo BLHS như vấn đề tiến tới xóa bỏ án tử hình, hạn chế tối đa oan sai trong xét xử…
Một nhiệm vụ quan trọng hơn cả của BLHS đó chính là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh đất nước. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, bên cạnh những mặt thuận lợi thì còn rất nhiều thách thức, những thách thức đó mới hơn, khó nhận biết hơn, được che dấu dưới những chiếc áo khoác nhiều màu sắc hấp dẫn về lợi ích kinh tế, sự cám dỗ về vật chất được nhìn qua những lăng kính ảo của tham vọng cá nhân, với những chuẩn mực đạo đức, lối sống sai lệch… thì nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh đất nước là quan trọng hơn cả.
Bên cạnh đó, ba chức năng và nhiệm vụ của BLHS là bảo vệ, phòng ngừa và giáo dục luôn luôn tồn tại song hành cùng các chức năng khác trong xu thế xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế hiện nay.
Như vậy, có thể nói rằng Luật Hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc VNXHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự xã hội, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật Hình sự cũng loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho quá trình đổi mới và sự nghiệp CNH – HĐH đất nước vì mục tiêu…..

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân: Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ” ; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” . Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân. Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là các ông quan cách mạng mà là công bộc của nhân dân. “Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” . Là nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu cử dân chủ. Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã được xác lập trong nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền khi tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân. Chính vì vậy, để thật sự là nhà nước của dân, ngay từ những ngày đầu giành được nền độc lập, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến tổ chức cuộc tổng tuyển cử để nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu xứng đáng thay mặt mình gánh vác việc nước.

5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước pháp quyền

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước: Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, mở đầu một chính thể nhà nước mới ở Việt Nam: chính thể dân chủ cộng hoà. Sự ra đời của chính thể dân chủ cộng hoà thể hiện một tư duy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước, vừa tiếp thu được các giá trị phổ biến của nền dân chủ nhân loại, vừa phù hợp với các đặc điểm của đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện pháp lý quan trọng của đất nước do chính Người chỉ đạo xây dựng và ban hành. Có thể thấy rằng hai bản Hiến pháp 1946, 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và 613 sắc lệnh kể từ 1945 đến 1969, trong đó có 243 sắc lệnh liên quan đến bộ máy nhà nước và luật pháp do Người ký ban hành đã hình thành một thể chế bộ máy nhà nước vừa hiện đại vừa dân tộc kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Luật Minh Khuê biên tập và sưu tầm