Trong suốt chiều dài lịch sử, nước Anh đã thực hiện rất nhiều những cuộc cải cách hệ thống tòa án để có thể có được một hệ thống tòa án hoàn thiện như ngày nay. Trong đó, những cuộc cải cách từ thế kỉ XV đến nay có ảnh hưởng sâu sắc tới hệ thống tòa án hiện nay tại Anh
Cuộc cải cách hệ thống toà án Anh từ TK XV đến TK XIX.
Nguyên nhân.
Sau khi hình thành hệ thống trát, trong quá trình phát triển với mối quan hệ với hệ thống trát, Common law đã dần trở nên phức tạp, cứng nhắc và dẫn đến nhiều bất công trong xét xử. Đặc biệt, bước sang thế kỉ XV, bản thân thủ tục tố tụng đã ngày càng bị chi phối mạnh mẽ bởi hệ thống trát. Do đó, thủ tục tố tụng thường được coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện.
Nếu đơn khiếu kiện không rơi vào một trong những vụ việc đã có trát lưu hành, bên nguyên giành được trát nhưng trát đó không phù hợp với bản chất của vụ việc, bên nguyên cũng sẽ bị toà bác đơn. Điều này dẫn đến tình trạng bên nguyên thường tiếp tục khiếu kiện lên Vua nhằm tìm kiếm sự trợ giúp đặc biệt.
Nhu cầu trên đã làm nảy sinh giải pháp là equity được văn phòng đại pháp quan khai thác để giải quyết các vụ việc không được giải quyết hoặc chưa được giải quyết thoả đáng bởi toà án hoàng gia. Vua thường thông qua viên Đại pháp quan của mình để giải quyết những đơn kiện trên và vì vậy Văn phòng đại pháp quan đã dần phát triển thành Toà đại pháp (trong đó, Đại pháp quan là người đứng đầu).
Thành tựu.
Việc hình thành nên Toà đại pháp giúp giải quyết vấn đề cấp bách thời bấy giờ là sự thiếu sót của hệ thống trát (nếu đương sự không có trát thích hợp, toà án không thể xét xử vụ việc; dẫn đến thẩm quyền của các Toà án Hoàng gia bị giới hạn nghiêm trọng). Thẩm quyền giải quyết của Toà án được mở rộng, nhu cầu giải quyết của bên nguyên được đáp ứng, đảm bảo xét xử được công bằng, không còn tình trạng bên nguyên bị thua kiện vì lí do lỗi kỹ thuật.
Từ đó, khắc phục được tính cứng nhắc trong việc đưa ra phán quyết của các thẩm phán. Các thẩm phán sẽ không phải hoàn toàn dựa vào hệ thống trát để xét xử, hoạt động của các Đại pháp quan ngày càng mang tính tư pháp, các phán quyết của họ được cố định bởi các phán quyết trong quá khứ và mang dần các đặc điểm của Common law
Đặc biệt, từ sự cải tổ hệ thống toà án này mà chế định uỷ thác được ra đời. Chế định uỷ thác đã bảo vệ được lợi ích cho người uỷ thác, đảm bảo các giao dịch dân sự được thực hiện đúng chuẩn mực và đảm bảo sự ổn định của đời sống xã hội. Bởi nhờ các Đại pháp quan của Toà Đại pháp thường ra phán quyết thi hành những điều kiện ghi trong hợp đồng uỷ thác mà bên được uỷ thác không thực hiện.
Cuộc cải cách hệ thống toà án Anh cuối TK XIX.
Nguyên nhân.
Bước sang thế kỉ XIX, Anh quốc ở vào tình trạng khủng hoảng, trong lĩnh vực pháp luật, cả về Common law và equity đều đã bộc lộ những khuyết điểm. Equity lúc này đã trở nên dễ thay đổi và thiếu ổn định; nhiều phán quyết của Tòa đại pháp mâu thuẫn làm cho luật sư khó có thể dự đoán trước để tư vấn cho thân chủ của mình kết cục có thể, nếu đưa vụ việc ra giải quyết tại Tòa đại pháp. Đại pháp quan vẫn tiếp tục đóng vai trò chính yếu trong việc phát triển equity tới tận thế kỉ XIX, trong khiđó việc xuất bản các phán quyết của Tòa đài pháp lại không được chú ý đúng mực làm cho việc thiết lập hệ thống tiền tệ trong equity trở nên hết sức khó khăn. Thủ tục của Tòa đại pháp trở nên lỗi thời do vẫn tiếp tục sử dụng kiểu tố tụng thời trung cổ như: kiểu bào chữa tối nghĩa, dài dòng, chi tiết, ẩn náu đằng sau những thuật ngữ chuyên môn gây khó hiểu và làm chậm quá trình ra phán quyết; việc thu thập chứng cứ từ nhân chứng bằng cách trả lời những câu hỏi theo mẫu in sẵn….đã trì hoãn quá trình tố tụng và làm cho Tòa đại pháp hoạt động kém hiệu quả.
Thêm vào đó, Tòa án Hoàng gia và Tòa đại pháp không có sự thống nhất về hoạt động mà sử dụng những thủ tục tố tụng khác nhau, vì vậy đã gây những khó khăn nhất định cho bên nguyên khi đi kiện.
Từ những nguyên nhân trên đã dẫn đến nhu cầu cải tổ hệ thống toà án ở Anh
Thành tựu.
Việc quy tụ các toà án thành toà chuyên trách đã giúp hệ thống toà án được tinh giảm, gọn nhẹ, giảm bớt chi phí duy trì hệ thống Toà án của quốc gia.
Cuộc cải tổ pháp luật này còn hợp nhất được common law và equity, theo đó tất cả các tòa chuyên trách trong tòa án cấp cao và tòa phúc thẩm đều phải áp dụng các quy phạm và nguyên tắc pháp lí của Anh quốc, bất kể chúng đã được hình thành từ Tòa án Hoàng gia hay từ Tòa đại pháp, tạo nên sự thống nhất trong xét xử của hệ thống toà án.
Hệ thống toà án ở Anh đã được tổ chức lại chặt chẽ hơn, các toà án đơn nhất được tổ chức một cách chặt chẽ và phụ thuộc vào một toà nhất định nhằm giải quyết những vấn đề nhất định, các cấp xét xử cũng được phân định rõ ràng. Các toà án được phát triển một các đồng bộ.
Cuộc cải cách hệ thống toà án Anh từ TK XIX đến nay.
Nguyên nhân.
Với hệ thống tòa án của Anh được tổ chức theo Luật Toà án tối cao năm 1981, có thể thấy, cơ quan lập pháp (Thượng nghị viện) của Anh thực chất đóng vai trò của một tòa án cao nhất trong hệ thống tòa án của Anh. Rõ ràng, khác với người Mĩ, người Anh trước kia không quan tâm đến "Học thuyết tam quyền phân lập". Tuy nhiên, cho đến khoảng thời gian trước, quan điểm lịch sử của người Anh đã đổi thay khi mà Nghị viện Anh đã thông qua Luật cải tổ Hiến pháp năm 2005 và đã có hiệu lực kể tử tháng 10/2009. Theo đó, từ tiến trình lịch sử hoạt động của Tòa án Anh có thể thấy có 2 nguyên nhân khiến Chính phủ Anh có quyết định cải cách lại hệ thống Tòa án nước này:
Thứ nhất, xuất phát từ nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước, Chính phủ Anh cho rằng sự ra đời của một Tòa án tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm cuối cùng sẽ đảm bảo và tăng cường sự độc lập của ngành Tư pháp và Hành pháp. Đây cũng là một bước đi dứt khoát của Chính phủ Anh nhằm lấy lại thẩm quyền xét xử từ cơ quan lập pháp (Thượng nghị viện) trả lại cho cơ quan tư pháp mà trực tiếp là Tòa án tối cao.
Thứ hai, từ mô hình hệ thống tòa án Anh sau khi được cải cách thì có thể thấy Chính phủ Anh có mong muốn, dự định tái tạo một hệ thống tòa án tối cao theo kiểu của Mĩ khi mà sự độc lập của Tòa án Mĩ đã được ghi nhận trong Hiến pháp Mĩ. Mô hình này cũng đã được Mĩ áp dụng rất hiệu quả và được nhiều nước khác trên thế giới học tập.
Thành tựu.
Sau 10 năm kể từ Luật cải tổ hiến pháp có hiệu lực với sự ra đời của Tòa án tối cao đã khắc phục được những hạn chế và đạt được những thành tựu so với trước kia, cụ thể:
Thứ nhất cải cách cho thấy vai trò độc lập của ngành tư pháp qua đó duy trì và tăng niềm tin vào công lý, thúc đẩy tính minh bạch trong hoạt động xét xử. Trước kia ngoài chức năng lập pháp Nghị viện còn có chức năng tư pháp. Do đó có sự chồng chéo quyền lực dẫn đến xét xử thiếu độc lập và vô tư. Minh họa cho điều này là vụ kiện tụng phát sinh nằm trong sự điều chỉnh của Đạo luật săn bắn 2004. Khi đó các thành viên nghị viện được yêu cầu xem xét tính hợp lệ của luật để đưa ra lệnh cấm săn bắn và có hai thành viên trong nghị viện đồng ý. Vì vậy, khi xét xử vụ kiện với sự tham gia của thành viên nghị viện đã làm cho bản án thiếu công bằng
Thứ hai khi Tòa án tối cao chính thức bước vào hoạt động, Tòa lấy lại thẩm quyền xét xử phúc thẩm từ Thượng nghị viện và quyền giải quyết các vụ việc về phân định thẩm quyền giữa chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương từ Hội đồng cơ mật. Do đó Tòa án tối cao là tòa án phúc thẩm cao nhất và duy nhất; qua đó đảm bảo cách tiếp cận cũng như áp dụng pháp luật nhất quán trên toàn bộ lãnh thổ Vương quốc Anh.
Như vậy, qua việc tìm hiểu về những cuộc cải cách hệ thống tòa án tại Anh, chúng ta thấy được quá trình để nước Anh có được hệ thống tòa án như hiện nay. Cùng với những cuộc cải cách, quá trình bổ nhiệm thẩm phán hiện nay cũng được minh bạch hơn và vai trò độc lập của ngành tư pháp qua đó được duy trì và tăng niềm tin vào công lý, thúc đẩy tính minh bạch trong hoạt động xét xử.
Quy định chung của pháp luật về tòa án
Ở Việt Nam, Toà án là một trong những cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.
Theo Hiến pháp năm 1946, các toà án được gọi là cơ quan tư pháp. Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự là các cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và theo quy định tại Điều 47 Hiến pháp năm 1946, thì Quốc hội có thể quyết định việc thành lập toà án đặc biệt.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1980, Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt hoặc trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước có thể quyết định thành lập toà án đặc biệt. Còn ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, theo quy định của pháp luật. Chế độ bầu cử thẩm phán nhân dân được thực hiện ở toà án nhân dân các cấp theo nhiệm kì luật định. Quốc hội bầu và bãi miễn chánh án Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng nhà nước cử và bãi nhiệm Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, thẩm phán và hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân tối cao. Hội đồng nhân dân các cấp bầu và bãi miễn các thành viên của Toà án nhân dân cùng cấp. Theo Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001, Toà án nhân dân tối cao, cố toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sư và các toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định việc thành lập toà án đặc biệt. Chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kì của thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kì của hội thẩm nhân... do luật định, riêng chánh án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm. Đối với các toà án nhân dân địa phương, việc quản lí về mặt tổ chức có sự biến động so với trước đây. Từ năm 1946 đến 1960 do Bộ Tư pháp quản lí. Từ năm 4960 đến 4980 do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lí. Từ năm 1980 đến năm 1992 do Bộ Tư pháp cùng Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lí; từ năm 1992 đến năm 2001 do Bộ Tư pháp quản lí. Từ năm 2002 đến nay do Chánh án Toà án nhân dân tối cao trực tiếp quản lí.