1. Được gia hạn nộp toàn bộ số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản không?

Số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, trong trường hợp được gia hạn nộp toàn bộ, sẽ tuân theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 67/2019/NĐ-CP như sau:

- Đối với việc xem xét gia hạn số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, có hai trường hợp được xem xét:

+ Khi đối tượng đang gặp khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng thuê đất.

+ Khi đối tượng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật quản lý thuế.

- Tổ chức hoặc cá nhân đang thực hiện việc khai thác khoáng sản, nếu thuộc vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, được gia hạn nộp một phần hoặc toàn bộ số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

- Đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, bao gồm số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền chậm nộp và tiền phạt nợ của tổ chức hoặc cá nhân khai thác khoáng sản, có hiệu lực tính đến thời điểm sau:

+ Khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ. Tuy nhiên, giá trị vật chất bị thiệt hại không vượt quá phần được bồi thường theo quy định của pháp luật, trừ khi tổ chức hoặc cá nhân phải chịu trách nhiệm thanh toán.

+ Khi tổ chức hoặc cá nhân ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng không vượt quá chi phí di dời và thiệt hại do việc di dời cơ sở sản xuất kinh doanh gây ra, cùng với các khoản chi phí liên quan phát sinh trong thời gian tạm dừng khai thác.

- Trong thời gian được gia hạn nộp, không tính tiền chậm nộp đối với số tiền được gia hạn. Khi hết thời gian gia hạn nộp, tổ chức hoặc cá nhân phải nộp số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà nước theo quy định. Trong trường hợp tổ chức hoặc cá nhân khai thác khoáng sản không nộp đủ số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản sau khi hết thời hạn gia hạn, sẽ bị tính tiền chậm nộp và bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

- Thời gian gia hạn, thẩm quyền gia hạn, hồ sơ gia hạn, xử lý hồ sơ gia hạn nộp số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền chậm nộp và tiền phạt được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Theo quy định nêu trên, việc gia hạn số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản có thể áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải nộp.

Quyết định gia hạn số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được đưa ra trong các trường hợp sau đây:

+ Khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng thuê đất: Khi các đối tượng đang gặp vướng mắc trong việc giải phóng mặt bằng thuê đất để thực hiện hoạt động khai thác khoáng sản, có thể xem xét gia hạn số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

+ Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật quản lý thuế: Nếu tổ chức hoặc cá nhân khai thác khoáng sản thuộc các trường hợp quy định này, họ có thể được gia hạn nộp một phần hoặc toàn bộ số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

Quy định trên cung cấp cơ hội cho các đối tượng khai thác khoáng sản để tạm hoãn việc nộp số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khi đối mặt với các khó khăn về giải phóng mặt bằng thuê đất hoặc các vấn đề thuế liên quan.

Tuy nhiên, việc gia hạn nộp số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi hết thời gian gia hạn, tổ chức hoặc cá nhân phải nộp đúng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà nước theo quy định. Trong trường hợp không nộp đủ số tiền sau khi hết thời hạn gia hạn, tổ chức hoặc cá nhân này sẽ bị áp dụng tiền chậm nộp và sẽ phải tuân thủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính theo luật quản lý thuế.

Việc gia hạn số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là một biện pháp linh hoạt nhằm hỗ trợ các đối tượng khai thác khoáng sản trong việc vượt qua các khó khăn tạm thời và đảm bảo sự tuân thủ đúng quy định pháp luật về quản lý thuế.

 

2. Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nộp cho ngân sách địa phương bao nhiêu phần trăm?

Theo quy định tại Điều 12 Nghị định 67/2019/NĐ-CP, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là một phần quan trọng của nguồn thu ngân sách, đóng góp vào việc phát triển kinh tế địa phương và quốc gia. Quy định cụ thể về tỷ lệ nộp tiền cấp quyền này đã được xác định rõ, tùy thuộc vào loại Giấy phép và cơ quan cấp phép.

Theo đó, nếu Giấy phép khai thác khoáng sản được cấp bởi Trung ương, tỷ lệ nộp tiền cấp quyền là 70% cho ngân sách trung ương và 30% cho ngân sách địa phương. Điều này nhấn mạnh sự công bằng trong việc phân chia nguồn thu nhập từ ngành khai thác khoáng sản giữa cấp trung ương và địa phương. Đồng thời, cũng có sự khuyến khích và thúc đẩy nguồn thu nhập cho ngân sách địa phương, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế tại cấp địa phương.

Nếu Giấy phép được cấp bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thì toàn bộ số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản sẽ được nộp cho ngân sách địa phương. Điều này mang lại lợi ích lớn cho các địa phương có nguồn khoáng sản phong phú, khi mà toàn bộ giá trị thu được từ việc khai thác sẽ được họ sử dụng để đầu tư vào các dự án phát triển cộng đồng, cải thiện cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân địa phương.

Quy định này không chỉ tạo ra sự rõ ràng và minh bạch trong quản lý nguồn thu nhập từ khai thác khoáng sản mà còn góp phần định hình một cơ cấu phân phối thu nhập công bằng giữa cấp trung ương và cấp địa phương, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững toàn diện trên cả nước. Đồng thời, cũng tạo ra sự cân nhắc và chính sách linh hoạt, phản ánh tầm quan trọng của việc quản lý nguồn lợi tự nhiên một cách bền vững và hiệu quả.

 

3. Những trường hợp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản không được hoàn trả?

Trong quá trình quản lý và khai thác nguồn lợi khoáng sản, vấn đề liên quan đến tiền cấp quyền khai thác đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt là việc xác định các trường hợp không hoàn trả số tiền này, theo quy định tại khoản 7 Điều 10 Nghị định 67/2019/NĐ-CP.

- Trước hết, quy định rõ ràng về việc không hoàn trả tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các trường hợp cụ thể như sau. Trong trường hợp tổ chức hoặc cá nhân đã nộp số tiền cấp quyền khai thác lần đầu, nhưng sau đó quyết định trả lại giấy phép khai thác toàn bộ trữ lượng mỏ hoặc một phần diện tích khu vực khai thác tương ứng với một phần trữ lượng, số tiền đã nộp sẽ không được hoàn trả. Điều này thể hiện sự chặt chẽ và nhất quán trong việc quản lý nguồn thu nhập từ khai thác khoáng sản, tránh tình trạng lạm dụng quyền lợi và giữ vững tính công bằng trong quá trình quản lý nguồn lợi tự nhiên.

- Một trường hợp khác quan trọng là khi tổ chức hoặc cá nhân đã nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo trữ lượng được phép đưa vào thiết kế khai thác. Trong trường hợp này, thời hạn khai thác theo giấy phép đã kết thúc, nhưng chưa khai thác hết trữ lượng, số tiền đã nộp không được hoàn trả. Thậm chí, nếu có ý định gia hạn khai thác và được ưu tiên gia hạn, số tiền đã nộp vẫn không được hoàn lại. Điều này nhấn mạnh sự trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả các kế hoạch khai thác.

- Ngoài ra, quy định cũng đề cập đến trường hợp bị thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của Luật khoáng sản. Trong những trường hợp như vậy, tổ chức hoặc cá nhân không chỉ mất quyền khai thác mà còn không được hoàn trả số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đã nộp. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định và điều kiện khi được cấp phép, đồng thời tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong ngành khai thác khoáng sản.

Đối với những trường hợp không hoàn trả tiền cấp quyền khai thác, cơ quan có thẩm quyền cấp phép sẽ chịu trách nhiệm tính và thẩm định lại số tiền cấp quyền khai thác và thông báo cho Cục Thuế địa phương để xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Điều này không chỉ đảm bảo tính minh bạch và công bằng mà còn tạo điều kiện cho việc quản lý thuế hiệu quả và đúng đắn, giúp ngăn chặn tình trạng trốn thuế và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Khai thác khoáng sản là gì? Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp phép khai thác khoáng sản

Liên hệ hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn