1. Quốc tịch là gì ?

Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia có chủ quyền. Nếu một người có quốc tịch của một quốc gia thì người đó được gọi là công dân của quốc gia đó. Quốc tịch ban cho quốc gia thẩm quyền pháp lý đối với cá nhân và cho phép cá nhân nhận được sự bảo vệ của quốc gia mà họ có quốc tịch. Các quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể khác nhau tùy theo quốc gia.

Quyền công dân thì được quyết định bởi jus soli, jus sanguinis hay sự nhập tịch. Ở một vài nơi trên thế giới, quốc tịch của một người được quyết định bởi dân tộc của người đó hơn là quyền công dân. Quốc tịch cho phép nhà nước có quyền lực pháp lý với một cá nhân và cũng cho phép cá nhân quyền được bảo vệ bởi nhà nước.

Điều 15 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ rõ "Mọi người đều có quyền với một quốc tịch" và "Không ai đáng bị tước quốc tịch một cách tùy tiện hay bị từ chối quyền đổi quốc tịch". Các quốc gia có quyền quyết định công dân của nước đó. Những việc quyết định này là một phần của luật quốc tịch. Trong một vài trường hợp, việc quyết định quốc tịch được dựa theo luật pháp quốc tế.

Từ quyền công dân thường được sử dụng khác với quốc tịch, khác biệt cơ bản nhất của quyền công dân là công dân có quyền được tham gia vào đời sống chính trị của một nhà nước, như việc bầu cử hoặc ứng cử. Trong khi thuật ngữ quốc tịch có thể bao gồm những người là công dân và những người không phải là công dân.

Ngoài ra, quốc tịch còn có thể là quyền thành viên của một dân tộc (một nhóm người có cùng mối quan hệ về dân tộc và văn hóa) dù dân tộc đó không có nhà nước.

Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý, có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định, không bị giới hạn, giữa một cá nhân với một chính quyền nhà nước nhất định.

Quốc tịch còn được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật, điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh trong các điều kiện: có, mất, thôi, tước, hủy, trở lại quốc tịch.

Chế định này là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử loài người, lần đầu tiên người dân sống trong một quốc gia đã có riêng cho mình một chế định mang tính pháp lý; đây cũng là lần đầu tiên họ được coi là “công dân” của một quốc gia chứ không phải là “thần dân” như trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, ý nghĩa về sự bình đẳng mà giai cấp tư sản hứa mang lại cho họ khi đưa ra chế định quốc tịch thời bấy giờ cũng chỉ là sự bình đẳng mang tính hình thức. Trên thực tế, chỉ có giai cấp tư sản – giai cấp nắm chính quyền mới được hưởng thụ một cách đầy đủ nhất sự bình đẳng và lợi ích mà chế định này mang lại.

Hiện nay, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế-xã hội, cũng như sự gia tăng các học thuyết chính trị pháp lý về nhân sinh ngày càng nhiều hơn, các giá trị nhân văn ngày càng được trân trọng hơn, thì con người- với vai trò là chủ thể cơ bản hình thành nên Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là khái[mỗi quốc gia ngày càng được quan tâm niệm công dân và địa vị pháp lý của họ trong hệ thống pháp luật quốc gia đang được ghi nhận một cách đúng nghĩa nhất. Lúc này, quốc tịch không còn là chế định mang tính hình thức, nó đã trở thành cách thức biểu đạt rõ nhất mối quan hệ hai chiều giữa một bên là nhà nước và một bên là công dân của họ.

Như vậy, từ phương diện pháp lý quốc tế hiện đại, quốc tịch là mối liên hệ mang tính chất pháp lý -chính trị giữa một cá nhận với một quốc gia nhất định và biểu hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện.

2. Đặc điểm của quốc tịch

Quốc tịch có một số đặc điểm sau: Từ định nghĩa nêu trên về quốc tịch, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm sau về quốc tịch:

a. Có tính ổn định và bền vững về không gian và thời gian

+ Về không gian: Mối quan hệ pháp lý giữa quốc gia và cá nhân mang quốc tịch là hoàn toàn không bị hạn chế, điều này thể hiện ở chỗ: Khi đã mang quốc tịch và trở thành công dân của một quốc gia nào đó thì mỗi công dân phải luôn chịu sự chi phối và tác động về mọi mặt từ quốc gia đó, không kể họ đang cư trú ở đâu, trong hay ngoài nước, và tại nơi họ cư trú họ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau.

+ Về thời gian: Thông thường, một người ngay khi sinh ra đã mang một quốc tịch, tức là có mối liên hệ với ít nhất một quốc gia nhất định. Mối liên hệ này sẽ gắn bó suốt quá trình sống của người đó từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, trừ những trường hợp đặc biệt (như: xin thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch…).

b. Quốc tịch thể hiện mối quan hệ pháp lý có tính hai chiều giữa nhà nước và công dân, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Khi mang quốc tịch của một quốc gia nào đó, thì công dân được hưởng những quyền đồng thời phải gánh vác các nghĩa vụ đối với nhà nước của họ; ngược lại, các quyền của công dân cũng chính là các nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện nhằm đảm bảo tốt nhất các quyền của công dân và nghĩa vụ của công dân lại đồng thời là các quyền của quốc gia đó.

c. Tính cá nhận của quốc tịch: Quốc tịch gắn bó với bản thân mỗi cá nhân nhất định và không thể chia sẻ cho người khác. Việc thay đổi quốc tịch của một người không thể làm quốc tịch của người khác thay đổi theo.

d. Quốc tịch vừa mang tính quốc tế, vừa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia. Trong quan hệ quốc tế, quốc tịch là cơ sở để quốc gia tiến hành bảo hộ ngoại giao cho công dân của mình; là cơ sở để quốc gia từ chối tiến hành dẫn độ tội phạm đối với công dân mình (trừ những trường hợp có điều ước quốc tế quy định về dân độ).

3. Người hai hoặc người không quốc tịch

Xác định quốc tịch có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng đối với từng cá nhân trong xã hội, bởi vì quốc tịch là căn cứ, dấu hiệu nói lên sự quy thuộc của một cá nhân về một nhà nước nhất định. Sự quy thuộc này biểu hiện ở mối quan hệ pháp lý có tính 2 chiều giữa cá nhân là công dân với quốc gia mà họ mang quốc tịch. Về phía nhà nước, xác lập quốc tịch chính là hành vi thực hiện chủ quyền của quốc gia đối với dân cư của họ, bởi vì, về mặt pháp lý, quốc tịch chính là căn cứ để xác định giới hạn thẩm quyền tài phán của một quốc gia trong các mối quan hệ pháp luật, đồng thời thể hiện ranh giới chủ quyền giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế.

Nguyên tắc xác định quốc tịch đối với người hai và không quốc tịch:

a) Người hai quốc tịch

Hai quốc tịch là tình trạng pháp lý của một người cùng một lúc là công dân của cả hai quốc gia. Nói cách khác, pháp luật của cả hai quốc gia đều coi người đó là công dân của mình, trên cơ sở đó cùng một lúc họ sẽ đồng thời được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ công dân của cả hai quốc gia.

Thực tiễn cho thấy, những người mang hai quốc tịch là nguyên nhân gây ra trở ngại rất lớn cho quốc gia trong việc thực hiện chủ quyền của mình đối với dân cư, và trong một chừng mực nhất định nó gây ra trở ngại cho quốc gia trong quan hệ hợp tác quốc tế. Việc đưa đến tình trạng hai quốc tịch do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là do xung đột pháp luật giữa các nước về vấn đề quốc tịch. Phổ biến có các nguyên nhân sau:

+ Do sự xung đột pháp luật của các nước khi quy định về các trường hợp hưởng quốc tịch. Trường hợp này xảy ra khi đứa trẻ được sinh ra trên lãnh thổ quốc gia có luật quốc tịch áp dụng nguyên tắc luật nơi sinh nên đứa trẻ sẽ mang quốc tịch của nước đó, đồng thời cha mẹ đứa trẻ lại là công dân của nước có luật quốc tịch áp dung nguyên tắc huyết thống nên đứa trẻ mang thêm quốc tịch theo quốc tịch của cha mẹ.

+ Do hành vi kết hôn, nhận con nuôi trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (VD: E là công dân của Việt Nam lấy chồng người Pháp. Theo luật của Pháp E cũng có quốc tịch của Pháp, đồng thời theo pháp luật Việt Nam E vẫn được giữ quốc tịch của Việt Nam).

+ Do một cá nhân được hưởng quốc tịch mới nhưng không đương nhiên bị mất quốc tịch cũ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do luật quốc tịch của nước họ không có quy định về việc đương nhiên mất quốc tịch khi vào quốc tịch mới.

- Để hạn chế và ngăn ngừa các trở ngại do hiện tượng hai hay nhiều quốc tịch mang lại, trong quan hệ hợp tác của mình các quốc gia đã ký kết một số điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương nhằm mục đích ngăn chặn và tiến tới loại bỏ các trường hợp nhiều quốc tịch. Theo các điều ước này, đương sự có quyền tự do lựa chọn một quốc tịch trong số những quốc tịch mà họ hiện có.

b) Người không quốc tịch

- Không quốc tịch là hiện tượng một cá nhân không có quốc tịch của một quốc gia nào, đồng nghĩa với việc người đó cũng không được coi là công dân của bất kỳ nước nào. Đây là hiện tượng phát sinh do một số nguyên nhân như:

Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ của nước áp dụng riêng biệt nguyên tắc “quyền huyết thống” mà cha mẹ là người không có quốc tịch.

Khi có sự xung đột pháp luật của các nước về vấn đề quốc tịch, chẳng hạn một người do cư trú ở nước ngoài mà theo luật nước họ họ bị tước quốc tịch hoặc tự động mất quốc tịch, nhưng luật của nước nơi họ đang cư trú lại yêu cầu phải được sự chấp thuận thôi quốc tích gốc mới được vào quốc tịch mới.

Khi một người đã mất quốc tịch cũ (do được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, tự động mất quốc tịch…) nhưng chưa có quốc tịch mới.

- Địa vị pháp lý của người không quốc tịch bị hạn chế hơn nhiều so với công dân của nước sở tại và người có quốc tịch nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia mà họ đang sinh sống. Theo nguyên tắc, những người không quốc tịch có khối lượng quyền và tự do ít hơn, bị hạn chế trong việc sử dụng các quyền dân sự và chính trị, không có khả năng yêu cầu sự giúp đỡ bảo hộ ngoại giao trong trường hợp các quyền và lợi ích cá nhân của họ bị xâm phạm.

4. Đương nhiên mất quốc tịch

Đương nhiên mất quốc tịch là không còn quốc tịch của một quốc gia theo điều kiện mất quốc tịch được quy định trong luật của quốc gia đó.

Người đương nhiên mất quốc tịch do nhiều nguyên nhân như gia nhập quốc tịch nước ngoài, phục vụ trong quân đội nước ngoài, tham gia vào bộ máy nhà nước của nước ngoài.

Với quy định đương nhiên mất quốc tịch, đương sự khó có thể bị rơi vào tình trạng hai hay nhiều quốc tịch ngay cả khi họ không xin thôi quốc tịch cũ của mình. Nhưng mặt hạn chế của quy định này là nếu pháp luật không quy định cụ thể các điều kiện kèm theo, đương sự có thể bị rơi vào tình trạng không quốc tịch trong trường hợp họ chưa nhận được quốc tịch mới mà đã đương nhiên mất quốc tịch cũ.

- Việc mất quốc tịch của một công dân xảy ra khi người đó ở vào những trường hợp mà pháp luật đã có những quy định từ trước.

Pháp luật của các nước trên thế giới thường quy định những trường hợp cụ dẫn đến hệ quả pháp lý mất quốc tịch của đương sự khi họ thực hiện một trong các hành vi sau đây:

Gia nhập quốc tịch nước khác

Phục vụ trong lực lượng vũ trang nước ngoài

Tham gia vào bộ máy nhà nước của quốc gia khác

Như vậy, đương nhiên mất quốc tịch là trường hợp công dân của một quốc gia bị mất quốc tịch một cách mặc nhiên chứ không phải là hành vi trừng phạt từ nhà nước.

5. Các trường hợp mất quốc tịch Việt Nam

Theo Điều 26 Luật Quốc tịch quy định các trường hợp mất quốc tịch Việt Nam bao gồm:

“- Được thôi quốc tịch Việt Nam (có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam);

- Bị tước quốc tịch Việt Nam; Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai và có quốc tịch Việt Nam mà chưa đủ 15 tuổi thì không còn quốc tịch Việt Nam trong trường hợp tìm thấy cha mẹ mà cha mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài hoặc chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ mà người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài;

- Mất quốc tịch trong trường hợp thay đổi quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam; Mất quốc tịch theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Từ các quy định trên, đối tượng phải đăng ký xác định có quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc các trường hợp mất quốc tịch Việt Nam, có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam trước ngày 01/7/2009 (ngày Luật Quốc tịch có hiệu lực) và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sau ngày 01/07/2009, không phải đăng ký xác định quốc tịch Việt Nam.

Do đó, bạn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài sau ngày 01/7/2009, có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là hộ chiếu Việt Nam và không thuộc các trường hợp mất quốc tịch Việt Nam nên bạn đương nhiên vẫn được xác định có quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký xác định có quốc tịch Việt Nam.

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)