1. Gây tai nạn làm chết người bị phạt như thế nào ?

Thưa Luật sư: em có đứa em năm nay 27 tuổi có gây tai nạn làm chết một người Khi công an giao thông đo nồng độ cồn thì em của em có nồng độ cồn vượt mức quy định là 0,48 mg / lít khí thở. Khi gây tai nạn thì người đó đang nằm ngủ ngoài giữa đường ( từ giữa đường cho đến lề đường) và che đậy rất kĩ không thể nhìn thấy được nên em của em đã cán qua người đó và nó bị té xuống bất tỉnh. Làm người đó bị chết lúc đó đường vắng nên em của em chạy khoảng 60 km/h. Khi đến gần thì nghĩ là rác nên đã chạy qua.
Vậy cho em hỏi em của em có bị khởi tố truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Quy trình diễn ra thế nào và thời hạn giải quyết là bao lâu. Sau tai nạn gia đình em cũng đã lo bồi thường cho gia đình nạn nhân là 40 triệu. Và nhà nạn nhân đã làm đơn bãi nại ?
Em rất mong được sự giúp đỡ của luật sư. Trân trọng cảm ơn!

Gây tai nạn làm chết người và thời hạn giải quyết vụ án hình sự được quy định như thế nào?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Gây tai nạn giao thông làm chết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?

Theo thông tin bạn cung cấp, em của bạn điều khiển xe khi nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định gây TNGT làm chết người. Hành vi gây tai nạn giao thông và gây ra thiệt hại thì tùy vào tính chất, mức độ mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử phạt hình sự. Cụ thể theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bên cạnh đó theo quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS thì hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ bị coi là phạm tội khi gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn các tội xâm phạm trật tự an toàn, giao thông ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của BLHS về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông:

Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Như vây em bạn vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, làm chết một người nên tùy thuộc vào mức độ lỗi của cả gười gây tai nạn và người bị thiệt hại tính mạng em bạn sẽ bị truy cứu TNHS với mức phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Trường hợp của em bạn, gia đình bị hại đã có đơn bãi nại. Tuy nhiên, theo quy định cuả pháp luật hình sự thì không phải mọi trường hợp có đơn bãi nại của người bị hại thì đều không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có một số tội danh quy định tại điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tạikhoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

+ Khoản 1 Điều 134 : Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
+ Khoản 1 Điều 135 : Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

+ Khoản 1 Điều 136 : Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

+ Khoản 1 Điều 138: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

+ Khoản 1 Điều 139 :
Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

+ Khoản 1 Điều 141 : Tội hiếp dâm

+ Khoản 1 Điều 143 : Tội cưỡng dâm

+ Khoản 1 Điều 155 : Tội làm nhục người khác

+ Khoản 1 Điều 156 : Tội vu khống

+ Khoản 1 Điều 226: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Theo đó, tội danh quy định tại điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 không thuộc trường hợp không bị truy tố khi người bị hại rút đơn khởi kiện. Do đó, em bạn vẫn phải chịu TNHS đối với tội này. Tuy nhiên, đơn bãi nại, yếu tố nhân thân, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội... là các yếu tố để Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt dành cho em bạn.

2. Thời hạn và quy trình xử lý vụ án hình sự:

Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.

– Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định như sau:

+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

+ Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn thời hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Hết thời hạn điều tra, cơ quan điều tra sẽ ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố.

– Thời hạn truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát sẽ ra bản cáo trạng tuy tố bị can trước Tòa án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Thời hạn xét xử:

+ Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

Như vậy thời hạn để giải quyết một vụ án hình sự, kể từ thời điểm nhận tố giác, khởi tố vụ án đến mở phiên tòa xét xử là:

– Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì thời hạn giải quyết vụ án là khoảng 4 tháng 25 ngày; trường hợp đặc biệt, được gia hạn thì tối đa là 9 tháng 15 ngày.

– Đối với tội nghiêm trọng thì thời hạn giải quyết vụ án là khoảng 6 tháng 10 ngày; trường hợp đặc biệt, được gia hạn thì tối đa là 14 tháng.

– Đối với tội rất nghiêm trọng thì thời hạn giải quyết vụ án là khoảng 8 tháng 5 ngày; trường hợp đặc biệt, được gia hạn thì tối đa là 19 tháng 15 ngày.

– Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn giải quyết vụ án là khoảng 9 tháng 5 ngày; trường hợp đặc biệt, được gia hạn thì tối đa là 22 tháng.

Trường hợp của em bạn, em bạn có thể bị áp dụng khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: phạt tù từ 3 năm đến 10 năm. Theo điều 8 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: "Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù''. Như vậy, trường hợp của em bạn thuộc nhóm tội rất nghiêm trọng, thời hạn giải quyết vụ án là 8 tháng 5 ngày, có thể gia hạn tối đa là 19 tháng 15 ngày.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường khi gây ra tai nạn giao thông gồm những gì ?

2. Chở ba gây tai nạn có bị truy cứu hình sự ?

Thưa luật sư. bạn em chở em và 1 người nữa tức là chở 3 người do trời khuya và đã đâm chết 1 người đi bộ, cả 3 bọn em đều là học sinh lớp 12 và chưa có bằng và giấy phép. Vậy luật sư hãy cho biết là mức xử phạt đối với người điều khiển là như thế nào và 2 người ngồi sau có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không thưa luật sư?

Chỏ ba gây tai nạn có bị truy cứu hình sự ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất. về trường hợp xử phạt vi phạm đối với người điều khiển xe:

Căn cứ Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 Sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

Căn cứ Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ Điều Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông:

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 của Quốc hội quy định về quy tắc an toàn giao thông đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy:

Điều 30. Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy

1. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:

a) Chở người bệnh đi cấp cứu;

b) Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

c) Trẻ em dưới 14 tuổi.

Như vậy trong trường hợp này bạn là học sinh lớp 12 thì tức là bạn đã đủ 16 tuổi nên bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Tuy nhiên bạn không phân tích rõ tình huống của mình là nguyên nhân gây ra tai nạn là gì, có phải bạn vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ hay không nên chưa có cơ sở khẳng định bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).Nhưng bạn có nêu ra trường hợp bạn chở người 03 người nếu không thuộc trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu đó là nguyên nhân trực tiếp gây ra làm chết một người nên trong trường hợp này bạn vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại cho tính mạng người khác nên bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Thứ hai về việc hai người bạn của bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Theo quy định của pháp luật thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra với người có hành vi vi phạm. Trường hợp của bạn, vì người trực tiếp thực hiện hành vi tức là người thực hành là bạn, vì bạn điều khiển xe, còn hai người bạn chỉ người phía sau nếu thuộc trường hợp đồng phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 khi hành vi của bạn cũng bị truy cứu theo Điều luật này:

Căn cứ Điều 20 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Còn không thì họ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính với theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi vi phạm: Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, cả ba bạn đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại theo Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Đặc điểm pháp lý và hình phạt củaTội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

>> Xem thêm:  Hướng dẫn chia tài sản chung khi ly hôn với người có hành vi ngoại tình ? Mức phat sống chung như vợ chồng

3. Có trường hợp nào gây tai nạn mà không phải đi tù ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Em tôi gây tai nạn chết người và nó không có bằng lái xe. Gia đình nó cũng đã cố gắng bồi thường gia đình nạn nhân hết khả năng. Mới bị xử mức án 18 tháng tù giam.
Vậy luật sư cho tôi hỏi: có trường hợp nào mà em tôi có thể không phải đi tù không? Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: M.D

Có trường hợp nào gây tai nạn mà không phải đi tù ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì “Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm” nếu xét thấy bản án hoặc quyết định sơ thẩm đó chưa thỏa đáng.

Như vậy, nếu thấy mức hình phạt đối với mình còn nặng, em bạn hoàn toàn có quyền kháng cáo bản án của Tòa án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại Tòa án trong trường hợp em bạn vắng mặt tại phiên toà, em bạn phải gửi đơn kháng cáo theo mẫu đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm.

Như vậy, khi xét thấy hình phạt trong bản án đối với mình quá nặng, em bạn có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp phúc thẩm có chấp nhận yêu cầu kháng cáo hay không còn phụ thuộc vào việc chứng minh các yêu cầu kháng cáo có căn cứ hay không?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự thì “Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Theo hướng dẫn tại Điểm 6 Nghị quyết 01/HĐTP ngày 2 tháng 10 năm 2007 hướng dẫn về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thì:

“Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;

Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;

c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;

d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Như vậy, trong trường hợp này Tòa án sẽ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xem xét có cho em bạn được hưởng án treo hay không.

Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.''

Trong trường hợp Tòa án giảm mức hình phạt xuống dưới 3 năm tù, nếu xét thấy có đủ căn cứ để cho hưởng án treo thì Tòa án sẽ cho em bạn hưởng án treo theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

4. Uống rượu say gây tai nạn chết người có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Theo đó, chỉ cần có hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, tài sản của người khác đã cấu thành tội phạm và bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn đã uống rượu và gây ra tai nạn giao thông, hậu quả là chết người. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho chồng bạn, hành vi của chồng bạn đã thuộc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự: “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng“. Chính vì vậy, chồng bạn có thể sẽ bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Mặt khác, hành vi uống rượu gây ra tai nạn giao thông làm chết người thuộc Điều 260 Bộ Luật hình sự không thuộc các tội khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại (căn cứ Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự). Do đó, mặc dù sau khi gây ra tai nạn, gia đình bạn đã gặp gỡ gia đình người bị nạn và đã thực hiện việc bồi thường đầy đủ các chi phí cho họ, gia đình người bị hại cũng có đơn xin không xử lý hình sự đối với chồng bạn thì chồng bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật do đã cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 260.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

5. Gây tai nạn chết người, bồi thường đầy đủ vẫn bị khởi tố ?

Thưa luật sư, "Anh tôi say rượu gây ra tai nạn làm chết người. Gia đình tôi đã gặp gỡ gia đình người bị nạn và bồi thường đầy đủ. Đại diện bị hại cũng có đơn xin không xử lý anh tôi. Trong trường hợp này, anh tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự nữa không?".
(LPV, Hoàng Mai, Hà Nội)

Trả lời:

5.1 Gây tai nạn chết người trong tình trạng say rượu, bồi thường rồi có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Theo quy định tại Điều 260, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa được đổi bổ sung tại Điều 1 Bộ Luật hình sự 2017, Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu:

- Làm chết người;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Ngoài ra tại Khoản 2, Điều này có quy định như sau:

>> Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

- Không có giấy phép lái xe theo quy định;

- Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

- Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

- Làm chết 02 người;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

- Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Như vậy, anh của bạn khi gây tai nạn trong tình trạng say rượu là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật nói trên. Người gây tai nạn đã bồi thường thiệt hại về vật chất, theo quy định của pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra. Bởi tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không phải thuộc nhóm các tội phạm chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

Việc người gây án đã chủ động bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân sẽ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc biệt khi vụ án được đưa ra xét xử.

5.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án hình sự như thế nào ?

Bạn thân mến, có những vụ án người gây ra thiệt hại buộc phải chịu trách nhiệm hai phần: thực hiện phần nghĩa vụ dân sự và thực hiện phần nghĩa vụ hình sự. Có những vụ án chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự (chỉ thuộc lĩnh vực hình sự) hoặc chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự (chỉ thuộc lĩnh vực dân sự).

Trong trường hợp của bạn, anh bạn có thể phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự. Theo thông tin bạn cung cấp, anh bạn đã thực hiện trách nhiệm dân sự - bồi thường toàn bộ cho bên bị hại và bên bị hại cũng có đơn xin không xử lý anh bạn thì anh bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Trường hợp của bạn là trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tại khoản 1 Điều Điều 596, Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định rõ về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra như sau, Điều 596. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra :" 1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường. 2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Mặt khác, theo quy định tại mục I của NQ 03/2006/ NQ-HĐTP thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi đủ 4 yếu tố : có thiệt hại xảy ra ( bao gồm cả thiệt hại về vật chất và tinh thần); hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; phải có lỗi vô ý hoặc cố ý của người gây thiệt hại. Theo đó, xét trường hợp của bạn: lúc say rượu, anh bạn đã tự đặt mình vào trạng thái say không làm chủ được hành vi của mình và đã gây ra tai nạn chết người. Do đó, anh bạn phải thực hiện việc bồi thường thiệt hại về tính mạng cho người bị hại được xác định tại Điều 591 BLDS năm 2015. Cụ thể là :

Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.''

Anh bạn thực hiện việc bồi thường các khoản trên toàn bộ và kịp thời cho bên bị hại thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Chúc anh bạn may mắn!

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?