Ngày 03 tháng 10 năm 2023, Toà án Nhân dân tối cao ban hành Công văn 196/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Giải đáp vướng mắc về các lĩnh vực: Hình sự, tố tụng hình sự; Dân sự, tố tụng dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình; Hành chính; Hoà giải, đối thoại toà án.

Dưới đây Luật Minh Khuê sẽ đề cập đến các giải đáp quan trọng trong từng lĩnh vực như sau:

 

1. Một số vướng mắc công tác xét xử về hình sự

Vướng mắc số 1:

Các đối tượng có hành vi lấn chiếm đất và đã xây dựng nhà, công trình, vật kiến trúc trái phép trên đất lấn chiếm. Sau đó, có một số đối tượng khác đến tiếp tục lấn chiếm trên những phần đất này và có hành vi đập phá nhà, công trình, vật kiến trúc đã xây dựng trái phép nêu trên. Hành vi đập phá nhà, công trình, vật kiến trúc xây dựng trái phép của các đối tượng trên có cấu thành tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự không?

Giải đáp: Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: "Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ..."

Các đối tượng xây dựng nhà, công trình, vật kiến trúc trái phép trên diện tích đất do Nhà nước quản lý là hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Luật Đất đai năm 2013. Luật Xây dựng năm 2014 và các quy định khác của pháp luật có quy định liên quan. Việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật đó như thế nào và bằng biện pháp gì là thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước. Việc các đối tượng khác đến tiếp tục lấn chiếm trên những phần đất này và có hành vi đập phá nhà, công trình, vật kiến trúc đã xây dựng trái phép nêu trên thì phạm tội "huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" được quy định tại Điều 178 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

Vướng mắc số 2:

Bị cáo có hành vi nhờ người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy tờ giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật. Trường hợp này hành vi của bị cáo phạm hai tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" và tội "sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" hay "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"?

Giải đáp: Điều 341 của Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Đây là hai tội danh độc lập được quy định trong cùng một điều luật. Nếu các hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành hai tội danh độc lập, sau đó tổng hợp hình phạt.

Trường hợp bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà chỉ có hành vi nhờ người khác làm giả giấy đi đường. Sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi trái pháp luật. Trường hợp này, bị cáo phạm tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, mà không cấu thành tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"

Vướng mắc số 3:

Người phạm tội giả chữ ký của người sử dụng đất để thực hiện thủ tục xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp này, khi xét xử thì xử lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó như thế nào? Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hay tịch thu, tiêu huỷ theo Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015?

Giải đáp:Theo giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Toà án nhân dân tối cao thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Tại khoản 1 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: "Khi giải quyết vụ việc dân sự, Toà án có quyền huỷ quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việ dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết"

Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, chỉ có thể bị huỷ bỏ khi là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hoặc khi Toà án giải quyết vụ việc dân sự hoặc bị thu hồi bởi chính cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Điều 106 của Luật Đất Đai năm 2013. Do đó, trường hợp người phạm tội giả chữ ký của người sử dụng đất để thực hiện thủ tục xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này vào hành vi phạm tội thì khi xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 3 Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó (bản chất là thu hồi giá trị pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) mà không tịch thu, tiêu huỷ theo Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là tài liệu của vụ án và phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

 

2. Vướng mắc thường gặp về dân sự

Vướng mắc số 1:

Nguyên đơn A khời kiện bị đơn B yêu cầu Toà án giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trong quá trình giải quyết vụ án, xác định tài sản gắn liền với đất tranh chấp thuộc sở hữu của C. Toà án đã yêu cầu nhưng A không khởi kiện bổ sung; B không có yêu cầu phản tố và C không có yêu cầu độc lập về tài sản gắn liền với đất. Khi xét xử, đủ căn cứ xác định toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nận. Vậy tại phần Quyết định của Bản án chỉ cần tuyên: Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc...; mà không cần phải tuyên ai có quyền quản lý sử dụng đất; ai có quyền sở hữu tài sản trên đất hay không?

Giải đáp: Khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự, và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó"

Như vậy, đối với trường hợp nêu trên, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án phải hỏi đương sự để làm rõ yêu cầu của từng đương sự. Nếu B, C không có yêu cầu về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì Toà án phải nhận định vấn đề này trong bản án và chỉ cần tuyên trong bản án là không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Do B, C không yêu cầu giải quyết về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác nếu có yêu cầu.

Vướng mắc 2:

Toà án đang giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì phát hiện Toà án khác đã thụ lý vụ án tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thế chấp này. Trường hợp này phải nhập hai vụ án để giải quyết hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng để chờ kết quả giải quyết từ vụ án tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thế chấp?

Giải đáp: Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nhập vụ án dân sự như sau:

"Toà án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Toà án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nêu việc nhập và  việc giải quyết trong cìng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật.

Đối với vụ án có nhiều người có cùng yêu cầu khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan, tổ chức thì Toà án có thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một vụ án". 

Như vậy, pháp luật chỉ quy định việc nhập hai hoặc nhiều vụ án đều có liên quan đến tài sản thế chấp, mà việc xác định ai là người có quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp tài sản này là căn cứ quan trọng để Toà án giải quyết vụ án đó theo điểm d Khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để chờ kết quả giải quyết vụ án tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thế chấp nêu trên. Khi có kết uqar giải quyết vụ án này, Toà án tiếp tục giải quyết vụ án chấp hợp đồng tín dụng theo quy định pháp luật.

Vướng mắc số 3:

Trong vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bên vay trả nợ theo hợp đồng tín dụng, nếu bên vay không trả nợ sẽ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Các đương sự không yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Trường hợp xét thấy hợp đồng thế chấp vô hiệu thì Toà án có quyền tuyên Hợp đồng thế chấp vô hiệu không?

Giải đáp: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bên vay thế chấ tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nếu bên vay không trả nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án phải xem xét hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản này. Nếu hợp đồng thế chấp tài sản tuân thử đúng quy định pháp luật thì Toà án phải công nhận hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực và xử tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật; nếu hợp đồng thế chấp tài sản vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định pháp luật thì Toà án phải tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu mà không phụ thuộc vào việc đương sư có yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu hay không.

 

3. Vướng mắc xét xử về hành chính:

Vướng mắc số 1: 

Trong vụ án hành chính khởi kiện yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng người được cấp Giấy chứng nhận đã thế chấp tại Ngân hàng. Trường hợp này, quá trình giải quyết vụ án mà Ngân hàng có yêu cầu Toà án công nhận Hợp đồng thế chấp và không huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì quyền sử dụng đất đã được thế chấp hợp pháp cho Ngân hàng thì Toà án có đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không? Nếu đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng thì phải giải quyết như nào?

Giải đáp: Khoản 10 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác để nghị và được Toà án chấp nhận hoặc được Toà án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp vụ án hành chính có quyền yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Giấy này đang thế chấp tại Ngân hàng thì phải đưa Ngân hàng tham gia tố tụng với tư vách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong vụ án hành chính, Toà án không có quyền huỷ hoặc công nhận hợp đồng thế chấp, nhưng có quyền xem xét, đánh giá hợp đồng thế chấp để huỷ hoặc không huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vướng mắc số 2:

Trong quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho gia đình ông A. Ông A đồng ý với đơn giá bồi thường, hỗ trợ nhưng không đồng ý với chính sách tái định cư. Ông A khởi kiện đến Toà án. Trường hợp này xác định đối tượng khởi kiện như nào?

 Giải đáp: Theo quy định tại điểm c, Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất thì nhà nước hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở.

Như vậy, khi nhà nước thu hồi đất ở thì tuỳ từng trường hợp cụ thể để xem xét hỗ trợ tái định cư.

Theo quy định tại Khoản 1, khoản 2, Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì quyết định phê duyệ bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho gia đình ông A là quyết định hành chính và quyết định này ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông A nên ông A có quyền khởi kiện một phần hoặc toàn bộ quyết dịnh hành chính này.

>>> Xem thêm: TANDTC giải đáp 03 vướng mắc về hình sự

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về nội dung giải đáp thắc mắc trong công tác xét xử dân sự, hành chính, hình sự. Hy vọng bài viết trên đã mang đến cho bạn đọc thông tin hữu ích. Nếu có bất cứ thắc mắc nào về bài viết hay có nhu cầu được tư vấn pháp luật, vui lòng liên hệ hotline 1900.6162 hoặc email lienhe@minhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!