1. Quy định về nguyên tắc xét xử tập thể

Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số được quy định tại điều 131 Hiến pháp năm 1992 và điều 6 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 của Việt Nam.

Việc xét xử của tòa án liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân, tài dản của nhà nước, của tập thể, an ninh quốc gia, trận tự van toàn xã hội, trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy cần phải được tiến hành một cách thận trọng. Do đó, hiến pháp và pháp luật quy định tòa án phải xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

Tòa án xét xử tập thể có nghĩa là một bản án hay quyết định của tòa án không do cá nhân một thẩm phán hay hội thẩm nhân dân quyết định mà phải do một tập thể hội đồng (Ít nhất là ba thành viên) quyết định và được tiến hành theo đúng thủ tục tố tụng đã được pháp luật quy định. Số lượng và thành phần của Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do pháp luật tố tụng quy định.

2. Phân tích quy định về xét xử tập thể

Theo nguyên tắc này, công việc xét xử tại các tòa án của Việt Nam được thực hiện bởi các hội đồng xét xử. Các hội đồng xét xử do chánh án các tòa án tương ứng thành lập để trực tiếp xét xử một vụ án cụ thể. Khi tòa án xét xử sơ thẩm, hội đồng xét xử sơ thẩm thường gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm hoặc 2 thẩm phán và 3 hội thẩm; khi tòa án xét xử phúc thẩm, hội đồng xét xử phúc thẩm thường gồm 3 thẩm phán (Điều 154 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 222 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 64 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 254 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); Khi xét xử giám đốc thẩm, hội đồng xét xử bao gồm 3, 5 thẩm phán hoặc nhiều hơn (Điều 66 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 266 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 382 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Hội đồng xét xử ra phán quyết đối với một vụ án theo nguyên tắc đa số và bản án được coi là quyết định của tòa án nơi thành lập hội đồng xét xử mà không cần sự phê chuẩn của chánh án tòa án đó. Như vậy, trên thực tế, chính hội đồng xét xử với sự hiện diện của thẩm phán và hội thẩm mới là chủ thể thực hiện công việc xét xử còn tòa án là nơi tiến hành xét xử.

Nguyên tắc này được cho là bảo đảm công việc xét xử của tòa án được thực hiện một cách chính xác, bởi vì trí tuệ tập thể sẽ giúp xem xét vấn đề một cách kỹ càng hơn và do đó phán quyết có cơ sở vững chắc hon.

Tuy nhiên, áp dụng nguyên tắc xét xử tập thể cũng đòi hỏi thời gian và nguồn lực cho các thủ tục hành chính, hậu cần và nghị án. Đối với những vụ án đơn giản và có tình tiết rõ ràng thì các thủ tục đó CÓ thể gây lãng phí không cần thiết. Do đó, Hiến pháp năm 2013 cũng cho phép ngoại lệ đối với nguyên tắc này đối với các vụ án đom giản, tình tiết rõ ràng. Trong những trường hợp đó, pháp luật tố tụng cho phép áp dụng thủ tục rút gọn với chỉ 1 thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử (Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều 249 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 65 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

3. Bảo đảm quyền bảo vệ pháp lý của các bên

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ỉch hợp pháp của đương sự được bảo đảm". Mặc dù quy định đề cập trước tiên tới quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nguyên tắc này có phạm vi áp dụng đối với tòa án khi xét xử tất cả các loại vụ việc chứ không chỉ vụ việc hình sự. Nội dung của nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, người dân có quyền được bảo vệ về mặt pháp lý trước tòa án. Mỗi vụ tranh chấp trước tòa án đều có thể được coi là một cuộc chiến pháp lý giữa hai bên đối tụng. Để chiến thắng trong cuộc chiến pháp lý này, các bên sử dụng lí lẽ dựa trên pháp luật thay vì dùng vũ lực. Quyền được bảo vệ pháp lý chính là quyền được sử dụng pháp luật đưa ra lí lẽ để bảo vệ các quyền hợp pháp của mình. Quyền được bảo vệ pháp lý còn bao gồm cả quyền được hiện diện trước tòa án trong phiên xét xử, được trình bày quan điểm và được tòa án lắng nghe, cân nhắc.

Thứ hai, người dân có quyền được thuê luật sư hoặc người đại diện để thực hiện bảo vệ pháp lý cho mình, về lí thuyết, quyền bảo vệ pháp lý bao gồm quyền tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra lí lẽ để bảo vệ minh. Trong tố tụng hình sự, quyền được bảo vệ của bị can, bị cáo chính là quyền tự bào chữa hoặc có luật sư bào chữa. Các đương sự khác trong vụ án hình sự và các bên trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính có quyền tự minh hoặc có luật sư bảo vệ pháp lý cho mình, vế thứ hai của mệnh đề trên là. hết sức quan trọng. Bởi lẽ, khi vướng vào tranh chấp pháp lý thì các bên thường không đủ sáng suốt hoặc chuyên môn pháp lý để tự bảo vệ cho mình. Do đó họ phải nhờ tới những người mà họ tin tưởng, thường là luật sư - người có chuyên môn và chuyên nghiệp trong lĩnh vực pháp luật. Với tư cách đại diện cho một bên tranh chấp, vai trò của luật sư trong hệ thống tư pháp cũng quan trọng như thẩm phán hay kiểm sát viên. Luật sư yếu có nghĩa là lợi ích chính đáng của một bên có nguy cơ không được bảo vệ một cách công bằng và do đó công lí khó có thể được thi hành. Vì vậy, nguyên tắc “bảo đảm quyền được bảo vệ pháp lý của các bên” yêu cầu pháp luật phải quy định cho luật sư những quyền hạn đủ mạnh để đại diện và bảo vệ cho thân chủ của mình trước tòa án.

Thứ ba, tòa án, với tư cách là cơ quan xét xử, có nghĩa vụ bảo đảm quyền được bảo vệ pháp lý của các bên. Tòa án không được xét xử vắng mặt trong các vụ án có thể ảnh hưởng tới lợi ích của các bên. Tòa án phải thông báo cho các bên biết quyền được bảo vệ pháp lý của mình. Khi các bên viện dẫn và thực hiện quyền này thì tòa án phải tôn trọng; khi quyền này bị các cơ quan nhà nước hoặc các bên có liên quan xâm phạm thì tòa án phải bảo vệ. Chính tòa án chứ không phải cơ quan nào khác có trách nhiệm bảo đảm quyền được bảo vệ pháp lý của các bên, bởi lẽ tòa án là cơ quan phân xử tranh chấp, cơ quan bảo vệ công lí. Mặt khác, việc bảo đảm quyền được bảo vệ pháp lý của các bên cũng giúp hoạt động xét xử của tòa án hiệu quả hơn. Tòa án không thể xét xử áp đặt, một chiều. Khi các bên đưa ra lí lẽ bảo vệ mình thì tòa án phải lắng nghe, cũng có nghĩa là tòa án có thêm cơ sở để đưa ra phán quyết đúng đắn cho tranh chấp mà mình đang xử lí.

4.Nội dung cơ bản của nguyên tắc xét xử tập thể

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm. Đối với những vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm. Trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì chỉ do một thẩm phán xét xử.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán. Trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì chỉ do một thẩm phán tiến hành.
Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm gồm 3 hoặc 5 thẩm phán, trong trường hợp bản án hoặc quyết định bị kháng nghị có tính chất phức tạp hoặc hội đồng 3 hoặc 5 thẩm phán không thống nhất được khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì phải được xét lại bằng hội đồng toàn thể Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, các quyết định của toà án đều phải được sự thống nhất của tập thể, không quyết định theo ý kiến riêng của cá nhân, mọi vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử đều phải được thảo luận tập thể, thẩm phán không được tự mình quyết định.
Khi xét xử, toà án quyết định theo đa số. Các thành viên của hội đồng xét xử phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề, thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bàng văn bản và được để vào hồ sơ.

5. Nội dung cơ bản của nguyên tắc xét xử kịp thời, công khai, minh bạch

Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mĩ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuồi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đươngsự thì tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.
Xét xử kịp thời không chỉ là nguyên tắc trong xét xử mà còn là một trong những nguyên tắc bảo đảm quyền con người ưong tố tụng hình sự.
Việc xét xử kịp thời không chỉ có ý nghĩa đối với người bị buộc tội mà còn có ý nghĩa đối với việc thực hiện các nhiệm vụ của tố tụng hình sự, bảo đảm xử lí tội phạm nhanh chóng, mặt khác giúp cho các quan hệ xã hội, trật tự xã hội sớm được ổn định, các thiệt hại do tội phạm gây ra được khắc phục kịp thời, bảo đảm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Việc xét xử công bằng, công khai bảo đảm quyền con người cho người tham gia tố tụng, đồng thời bảo đảm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm.
Việc xét xử của toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên toà, trừ trường hợp luật định. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải công khai.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)