1. Căn cứ pháp lý

Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

“Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng. Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai”.

Nguyên tắc với nội dung vừa nêu trên đây là một nguyên tắc mới, bởi trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 18) chỉ có nội dung “xét xử công khai’. Quy định này bảo đảm sự phù hợp của Bộ luật tố tụng hình sự với Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai” (khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013).

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 xác định, trong quá trình tố tụng hình sự, bị cáo cần “phải được xét xử nếu không có lý do chính đáng để trì hoãn”, được sớm đưa ra Tòa án hoặc cơ quan pháp luật có thẩm quyền tiến hành tố tụng và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc trả tự do. “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu xét xử trước Tòa án nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do nếu việc giam giữ là trái pháp luật”. “Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong tố tụng dân sự’ (các điều 9.1, 9.2, 9.3, 14.1).

2. Tòa án xét xử kịp thời

Đòi hỏi về quyền được Tòa án xét xử và xét xử kịp thời chính là bảo đảm hàng đầu cho quyền tiếp cận công lý của người dân và sự thể hiện trên thực tế chức năng hiến định của Tòa án nhân dân ở nước ta về duy trì và bảo vệ công lý (xem Điều 102 Hiến pháp năm 2013).

Tiếp cận công lý vừa là mục tiêu của hoạt động tư pháp, vừa là điều kiện bảo đảm tăng cường trách nhiệm tư pháp và mức độ liêm chính của nó.

Đặt ra thời hạn tố tụng chính là xác định giới hạn các thẩm quyền của các cơ quan tố tụng bởi kéo dài vô cớ tình trạng và địa vị “người bị buộc tội” đối với con người chính là sự hạn chế quyền con người và xóa bỏ công lý.

Nguyên tắc về quyền tiếp cận công lý đặt ra vấn đề về thời hạn hợp lý của một vụ án, bởi thực tế tố tụng hình sự của các quốc gia trên thế giới đều cho thấy rằng, rất khó có thể đặt ra một thời gian có tính mặc định về thời hạn điều tra và xét xử một vụ án hình sự. Cho nên, ở vấn đề này chỉ có thể nói đến yêu cầu về một thời hạn hợp lý để không cho phép tình trạng kéo dài vô định một vụ án. Theo đó, độ kéo dài được coi là “hợp lý’ được căn cứ vào hai yếu tố chính: mức độ phức tạp của vụ án và mức độ thực thi trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Xét xử kịp thời không chậm trễ nhằm đảm bảo quyền con người của những người bị buộc tội. Bởi lẽ, khi bị đưa vào vòng quay tố tụng với tư cách bị can, bị cáo, những người này có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khởi nơi cứ trú và bị hạn chế một số quyền trong khi họ chưa bị coi là có tội thì tính thân của nguyên tắc suy đoán vô tội. Chính vì vậy, xét xử kịp thời, tòa án sẽ nhanh chóng đưa ra phán quyết trong nhiều trường hợp tòa tuyên họ vô tội, trả tự do và khôi phục quyên lợi cho họ.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có bước đổi mới quan trọng nhằm vào hướng khắc phục những hạn chế liên quan đến thời hạn trong tố tụng hình sự. Bộ luật đã rút ngắn đáng kể thời hạn tạm giam và số lần gia hạn tạm giam: chỉ quy định gia hạn 1 lần thay vì 2 lần đối với tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng; 2 lần đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng (so với 3 lần trước đây). Tinh thần chung là mọi hoạt động tố tụng đều phải được xác định giới hạn thời gian và phải được thực hiện nghiêm ngặt nhằm loại trừ sự tùy tiện, lạm dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.

3. Tòa án xét xử công bằng

Nguyên tắc này đòi hỏi tòa án xét xử công bằng. Thể hiện, người bị buộc tội phải được xét xử bởi một phiên tòa mà ở đó họ được thực hiện các quyền của mình trong tố tụng hình sự mà Hiến pháp và pháp luật quy định như: Được thông báo về phiên tòa, được biết mình bị xét xử về tội gì, được bào chữa hay nhờ người bào chữa, được tranh luận tại phiên tòa, đưa ra các chứng cứ và yêu cầu. Phiên tòa công bằng là phiên tòa mà ở đó quyền của các bên tham gia tố tụng được đảm bảo và đúng trình tự, thủ tục luật định.

4. Ví dụ vi phạm nguyên tắc Tòa án xét xử công bằng

Khoảng đầu tháng 8-2019, tại xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, TP.HCM, Lê Thị Ngọc Vân bán nước giải khát, nhiều người đến uống nước và tự mang bài ra chơi bài cào ba lá tính điểm ăn tiền với nhau. Người nào thắng thì cho Vân 20.000-30.000 đồng, sau đó Vân chuẩn bị sẵn bài để đánh bạc. Tối 18-8-2019, Lê Thị Ngọc Vân, Hồ Điệp, Nguyễn Lội, Châu Hoài Thanh, Trần Thành Nam, Lâm Văn Quí… cùng tham gia đánh bài ăn tiền tại quán của Vân. Hình thức đánh bạc là sử dụng bộ bài tây 52 lá, trong đó một người làm cái, những người còn lại đặt tiền vào các tụ, mỗi tụ ít nhất 50.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Lâm Văn Quí đang làm cái, các đối tượng khác tham gia đặt tụ thì bị công an bắt quả tang. Tháng 1-2020, TAND huyện Bình Chánh xử phạt Lê Thị Ngọc Vân, Trần Thành Nam, Lâm Văn Quí mỗi bị cáo một năm tù; các bị cáo Nguyễn Lội, Hồ Điệp, Châu Hoài Thanh mỗi bị cáo chín tháng tù, cùng về tội đánh bạc. Ngoài ra, Vân còn bị phạt bổ sung 15 triệu đồng; Nam, Lội, Điệp, Quí mỗi bị cáo 10 triệu đồng.

Sau đó tất cả bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tháng 5-2020, TAND TP.HCM xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của Lê Thị Ngọc Vân, Hồ Điệp, Nguyễn Lội, Châu Hoài Thanh và Lâm Văn Quí, không chấp nhận kháng cáo của Trần Thành Nam. Từ đó, tòa phạt Vân ba năm cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập. Điệp, Thanh, Lội, Quí mỗi bị cáo bị phạt chín tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Tháng 11-2020, VKSND Cấp cao tại TP.HCM đã kháng nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM.

Theo kháng nghị, số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo là 6,6 triệu đồng. Vân có hành vi tham gia đánh bạc mà tổng số tiền dùng đánh bạc có giá trị trên 5 triệu đồng nhưng dưới 50 triệu đồng. Tòa cấp sơ thẩm xử phạt Vân một năm tù là có cơ sở.

Tuy nhiên, VKSND Cấp cao cho rằng tòa cấp phúc thẩm xử phạt Vân ba năm cải tạo không giam giữ là vi phạm nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật và tòa án xét xử công bằng, chưa phân hóa vai trò, trách nhiệm của bị cáo trong vụ án. Bởi lẽ hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc hơn hình phạt cải tạo không giam giữ. Trong đó, án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

Theo VKSND Cấp cao, bị cáo Vân cùng có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như các bị cáo khác.

Thế nhưng tòa án cấp phúc thẩm lại chấp nhận kháng cáo, chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Vân. Mặc dù với hành vi phạm tội của Vân có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn các bị cáo khác nhưng các bị cáo này lại bị xử phạt chín tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Vân là người có tổ chức trong việc thực hiện tội phạm, là người chủ động chuẩn bị bài tây, cho các bị cáo khác mượn địa điểm, bàn ghế nơi mình kinh doanh để thực hiện việc phạm tội. Đồng thời bị cáo này cũng tham gia đánh bạc và có hành vi thu lợi bất chính từ việc thu tiền xâu của các con bạc khác.

Tuy hành vi này của bị cáo Vân chưa đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (quy định tại Điều 322 BLHS) nhưng xét về tính chất, mức độ nguy hiểm thì hành vi phạm tội của Vân cao hơn các bị cáo khác trong vụ án. Với vai trò chủ mưu, đáng lẽ tòa phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 3 BLHS 2015 nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy… trong việc xử lý bị cáo Vân nhằm đảm bảo tính công bằng và răn đe.

Từ những phân tích trên, VKSND Cấp cao cho rằng tòa cấp phúc thẩm đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, chưa thể hiện được sự công bằng trong công tác xét xử, không phân hóa vai trò, trách nhiệm của bị cáo. Việc chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vân, xử phạt ba năm cải tạo không giam giữ là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

4. Tòa án xét xử công khai

Việc xét xử công khai, một mặt bảo đảm cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát được hoạt động của Tòa án, và mặt khác phát huy được tính giáo dục chính trị - pháp lý và tác dụng phòng ngừa của hoạt động xét xử. Việc xét xử công khai là một trong những bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn và nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình, đối với việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật.

Phiên tòa xét xử của Tòa án được tiến hành một cách công khai, mọi người đạt độ tuổi nhất định (từ 16 trở lên) có quyền tham dự phiên tòa xét xử. Phiên tòa xét xử có thể được tiến hành tại phòng xét xử trong trụ sở của Tòa án, nhưng cũng có thể được xét xử lưu động tại nơi xảy ra việc phạm tội hoặc nơi cư trú của bị cáo nếu xét thấy cần thiết.

Nội dung phiên tòa, thời gian, địa điểm mở phiên tòa phải được niêm yết công khai trước khi xét xử, kết quả xét xử tại phiên tòa có thể được công bố trên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình hoặc bằng các phương tiện thông tin đại chúng khác cho mọi người biết.

Việc xét xử kín chỉ được tiến hành trong trường hợp đặc biệt. Đó là trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước (một số tội phạm liên quan đến bí mật Nhà nước); trường hợp cần giữ thuần phong mỹ tục của dân tộc (một số tội phạm về tình dục, tội phạm mà bị cáo là người chưa thành niên); trường hợp cần giữ bí mật của đương sự (một số tội phạm liên quan đến bí mật đời tư của những người tham gia vụ án).

Xử kín là một chế định đã được quy định từ BLTTHS năm 1988 và được khẳng định lại tại Điều 18 BLTTHS năm 2003, Điều 25 BLTTHS năm 2015. So với quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2003 thì quy định về trường hợp xét xử kín tại Điều 25 BLTTHS năm 2015 không có gì khác biệt. Thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy trong những trường hợp cần bảo vệ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đánh của đương sự bao gồm cả bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án…) thì Tòa án vẫn có thể quyết định xét xử kín.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)