1. Giải quyết tranh chấp khi đất bị chồng lấn?

Xin chào Luật Minh Khuê, Em có câu hỏi sau xin được giải đáp: Gia đình em có mua 1 lô đất của khu dân cư mới nhưng bị chồng đất. Hiện nay công ty bán đất cho gia đình em vừa tái cơ cấu tổ chức nên khi em cầm hợp đồng mua bán đất đến hỏi thì được trả lời là tìm giám đốc cũ mà hỏi.
Vậy công ty luật Minh Khuê có thể tư vấn giúp em hướng giải quyết cho trường hợp của gia đình em được không ạ?
Người gửi: Dart Flame

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 85 Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 85. Đại diện của pháp nhân

Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về đại diện tại Chương IX Phần này.

Căn cứ Điều 87 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 87. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác......

Như vậy theo thông tin bạn cung cấp thì việc cá nhân bạn giao kết hợp đồng mua bán với công ty tại thời điểm giám đốc cũ là người đại diện của công ty tuy nhiên công ty là pháp nhân hoạt động thông qua người đại diện nên theo quy định tại khoản 1 Điều 87 thì công ty phải chịu trách nhiệm trong hợp đồng trên của ban.

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Điều 68. Đương sự trong vụ việc dân sự

....2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.

3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.....

Như vậy theo quy định trên thì bạn làm đơn khởi kiện công ty đã ký hợp đồng với bạn tại tòa án nhân dân nơi công ty có trụ sở. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Mua đất đang bị thế chấp ở ngân hàng thì phải làm thế nào?

Thưa luật sư, xin nhờ luật sư tư vấn giúp: Gia đình em muốn mua một mảnh đất 150m2 tại huyện K tỉnh H. Tuy nhiên, do sổ đỏ của bên bán đang được thế chấp tại ngân hàng nên chưa thực hiện thủ tục mua, bán được.
Luật sư cho em hỏi em phải làm sao để đảm bảo được quyền lợi khi vẫn tiếp tục mua phần đất trên?
Em cám ơn.

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định của điều 188 Luật đất đai 2013 thì việc mua, bán, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất phải đáp ứng những điều kiện sau:

+ Đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 ).

+ Đất không có tranh chấp;

+ Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

+ Trong thời hạn sử dụng đất.

Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành hợp đồng mua bán, chuyển nhượng có công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền ( quy định tại khoản 3 điều 167 Luật đất đai 2013).

Xét trường hợp của bạn vì bên bán đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được thế chấp tại ngân hàng, cho nên hai bên chưa thể thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực hợp đồng mua bán đất theo quy định của pháp luật. Theo đó, nếu bạn vẫn muốn mua phần đất này thì hai bên có thể ký kết một hợp đồng đặt cọc để đảm bảo quyền lợi cho hai bên ( tuy nhiên hợp đồng đặt cọc sẽ không được coi là cơ sở để bạn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Căn cứ theo quy định tại điều 328 Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng đặt cọc là sự thỏa thuận của hai bên về việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Cụ thể:

Điều 328. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng....

Như vậy, theo quy định trên thì bạn có thể ký hợp đồng đặt cọc với bên bán đất về việc bạn sẽ giao cho bên bán một khoản tiền và trong một thời hạn nhất định mà hai bên thỏa thuận bên bán phải thực hiện thủ tục giải chấp ngân hàng và ký kết hợp đồng mua, bán đất với bạn. Nếu sau thời hạn mà hai bên thỏa thuận bên bán không bán đất cho bạn thì bạn có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết yêu cầu bên bán phải hoàn trả lại tiền cho bạn theo điều khoản trong hợp đồng đặt cọc.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

3. Cấp giấy chứng nhận đất trên mảnh đất của cha?

Đất thổ cư của gia đình để lại hiện nay không có nhà ở nhưng vẫn được trồng cây lâu năm,vậy có được phép cấp giấy quyền sử dụng đất không? Bố tôi có mảnh đất thổ cư từ năm 1931,ông lập gia đình và sinh sống được 8 người con trên mảnh đất này. Đến năm 1968, Mỹ xâm chiếm VIET NAM, đưa ĐAI HAN qua chiếm đóng,đốt nhà cửa,người dân ở đây phải đi tản cư, dồn dân vào một chỗ.
Đến năm 1975 đất nước hoàn toàn giải phòng, gia đình tôi trở lại quê củ và tiếp sinh sống ổn định trên mảnh đất này. Vì chiên tranh xảy ra anh em tôi môi người một nơi nên lúc quay về chỉ còn hai cha con tôi và chị dau tôi, đến năm 1982 ba tôi lâm bệnh năng rồi mất, khi đó tôi cũng mắc bệnh phù thận nhiễm mở, phải điều trị 3 năm liền trong bệnh viên hội an. Cho nên lúc đó không có ai ở nhà để kê khai và đo đac đất với địa chính ở chính quyền địa phương, lúc tôi khỏi bệnh trở về nhà rồi cưới vợ, tôi có khai hoang thêm một mãnh đất khác sinh sống với vợ con tôi, vậy bây giờ tuy tôi không còn ở trên mãnh đất của cha tôi nhưng đất đó vẫn được tôi trực tiếp bảo quản và trồng cây lâu năm.
Vậy bây giờ tôi có thể được quyền cấp giấy chứng nhận đât trên mảnh đất của cha tôi không ?
Người gửi: C.C.H

Cấp giấy chứng nhận đất trên mảnh đất của cha ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Luật đất đai 2013 , trường hợp của bạn có thể được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo trường hợp sau:

“Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Về việc xác định bạn có đầy đủ các căn cứ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trường hợp này hay không cần căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai :

“Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

.....3. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.

Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.

4. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;

c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.......

Về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định được hướng dẫn tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013 như sau:

“1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.”

Do đó, bạn cần xem mình có đáp ứng đủ các điều kiện trên hay không để yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận cho trường hợp của bạn. Bạn cũng cần chuẩn bị các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho viêc sử dụng đất ổn định, lâu dài và không có tranh chấp của bạn để đáp ứng điều kiện pháp luật quy định cho cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

4. Kiện đòi lại đất đã chuyển nhượng?

Chào luật sư. Mong Luật sư tư vấn giúp. Năm 1991, vợ chồng ông G cắt bớt đất của mình bán cho cha mẹ tôi 1 mảnh đất (có giấy viết tay). Cuối năm 1992, xã tổ chức kê khai ruộng đất cha mẹ tôi và ông G khai báo sự biến động này cha mẹ tôi mang giấy tờ mua bán viết tay đến để trình bày và nộp cho tổ công tác để đăng ký kê khai biến động đất đai. Tuy nhiên đến nay, không hiểu vì lý do gì, giấy tờ mua bán của cha mẹ tôi đã bị thất lạc (Những người làm việc lúc bấy giờ đều làm chứng việc này). Năm 1993 cha tôi và ông G đến để làm đơn đăng ký quyền sử dụng đất và trong năm này 2 hộ đều được hội đồng xét duyệt đồng ý xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994, cha mẹ tôi được cấp sổ đỏ. Năm 1997, ông G cũng được cấp sổ đỏ đúng diện tích khi đã trừ ra phần diện tích đã bán cho cha mẹ tôi. Sau khi nhận chuyển nhượng, được cấp sổ đỏ, cha mẹ tôi canh tác ổn định, không ai có ý kiến gì đến tháng 5-2014 thì phát sinh tranh chấp của các con ông G (vợ chồng ông G đã mất năm 2000 và năm 2009).
Hiện nay các con ông G đã gửi đơn ra tòa án đòi lại phần diện tích mà cha mẹ của họ đã bán cho cha mẹ tôi đã sử dụng hơn 20 năm qua và đã được nhà nước cấp sổ đỏ. Hiện giờ cha mẹ tôi rất lo lắng không biết phải làm thế nào để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình?
Rất mong luật sư tư vấn giúp. Trân trọng cảm ơn.

Kiện đòi lại đất đã chuyển nhượng ?

Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP Nghị quyết của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình hướng dẫn như sau:

b) Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này.

b.1. Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01/7/2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

b.2. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2, 3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

b.3. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch

Căn cứ theo quy định trên, trường hợp gia đình bạn mua bán đất từ năm 1992 có hợp đồng viết tay nhưng không đáp ứng các điều kiện về công chứng, chứng thực đất đai và đã được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ đất và sử dụng đất ổn định lâu dài 20 năm thì hợp đồng mua bán đất trước đó của gia đình bạn không được coi là vô hiệu, và căn cứ theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Nghị quyết của HĐTP TANDTC nêu trên, nếu có phát sinh tranh chấp từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Tóa án giải quyết thì hợp đồng chuyển nhượng trước đó không bị vô hiệu. Do đó gia đình Ông G không có quyền đòi lại mảnh đất mà Ông G đã chuyển nhượng trước đó cho gia đình bạn.

>> Xem thêm:  Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản năm 2020 ?

5. Tư vấn về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Xin chào Luật sư! Tôi có vấn đề rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Bên A: Công ty TNHH có sở hữu 1 khu đất như sau: . Mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất. Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê 50 năm (trả tiền hàng năm). Dự án là Đất trồng rừng sản xuất.
Bên B: Cá nhân. Trong trường hợp này, bên B muốn tiếp nhận để thực hiện tiếp Dự án này, thì bên A có được phép chuyển nhượng cho bên B không. Nếu có, điều kiện cần và đủ của 2 bên là gì và thủ tục gồm những Hồ sơ, bước thực hiện thế nào?
Rất mong nhận được phản hồi từ phía luật sư. Tôi chân thành cám ơn!.
Người gửi: R.A

>> Luật sư tư vấn Luật đất đai gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì bên A là công ty TNHH có quyền sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền hàng năm. Diện tích đất thuê này có thời hạn 50 năm để thực hiện dự án đất trồng rừng sản xuất. Bên B nhận chuyển nhượng là cá nhân. Trong trường hợp này thì bên A được quyền cho bên B thuê lại quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 2013:

Điều 175. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm
"1. Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước ch

o thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;
b) Thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;
c) Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 189 của Luật này; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;
d) Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;
đ) Cho thuê lại quyền sử dụng đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm đối với đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng đối với đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế"

Theo quy định tại Điều 179 Luật này thì cá nhân có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

* Điều kiện của các bên

Bên A phải đảm bảo các điều kiện theo quy định tại điều kiện quy định tại Điều 188 Luật này. Theo đó để cho thuê lại quyền sử dụng đất thì bên A phải: Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này; Đất cho thuê phải là đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;Trong thời hạn sử dụng đất. Việc cho thuê lại quyền sử dụng đất phải được đăng kí tại cơ quan đăng kí đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký đất đai.

Bên B phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 193 Luật này. Theo đó, phải đảm bảo mục đích sử dụng đối với diện tích đất nhận thuê quyền sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nghĩa là bên A phải sử dụng đất vào mục đích trồng rừng sản xuất.

* Thủ tục cho thuê lại quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

Theo đó:

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc sau đây:

a) Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;

b) Xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

c) Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: L[email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại