1. Hướng dẫn cách thức giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê. Tôi đang làm việc cho một công ty dịch vụ hàng hải tại TPHCM vị trí nhân viên kinh doanh. Tôi làm theo loại hình bán thời gian, không có ký hợp đồng lao động, chỉ làm việc dựa vào thỏa thuận qua email và đã làm việc từ 01/09/2014.

Do vi phạm quá trình làm việc công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Vào ngày 30/12/2014 sau khi họp với tôi và xác nhận tôi có sai phạm, yêu cầu tôi không được vào công ty nữa. Công ty đang trì hoãn việc thanh toán tiền lương và các quyền lợi liên quan cho Tôi vì lý do là tôi sai phạm. Mặc dù việc thanh toán tiền lương đã có thỏa thuận giữa 2 bên thông qua email, nhưng Sếp của tôi bảo rằng sẽ xem xét việc thanh toán lương cho tôi theo cảm tính chứ không theo như thỏa thuận giữa 2 bên. Tôi đang có ý định nhờ Sở lao động can thiệp giúp đỡ vấn đề này. Trong trường hợp này tôi phải làm gì và ai đúng ai sai?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Hướng dẫn cách thức giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ vào Điều 14 Bộ luật lao động 2019 quy định:

"Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đng lao động bằng văn bản.

2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này."

Bạn bắt đầu làm việc từ 1/9/2014 đến 30/12/2014 đã quá 3 tháng nhưng bạn và công ty không ký HĐLĐ là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. HĐLĐ không trọn thời gian cũng cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng lao động.

Do bạn chưa trao đổi rõ gữa bạn và công ty đang có vi phạm gì, vi phạm này có dẫn đến việc bạn phải bồi thường về mặt vật chất với công ty hay không nên chúng tôi chưa đưa ra tư vấn cụ thể. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo Trình tự, thủ tục quy định tại Điều 188 Bộ luật lao động để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như sau:

"Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181 của Bộ luật này, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.

4. Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.

Trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.

5. Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

6. Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

7. Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định tại khoản 4 Điều này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:

a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu Tòa án giải quyết."

Vì bạn không nói rõ nên chúng tôi không biết chính xác thời điểm mà phía bên công ty thông báo sẽ không thanh toán tiền lương theo thỏa thuận ban đầu mà thanh toán theo cảm tính là khi nào nhưng bạn chỉ có thể yêu cầu giải quyết khi còn thời hiệu. Bộ luật lao động quy định:

"Điều 190. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

4. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân."

>> Xem thêm:  Công ty tạm ngừng hoạt động để sửa chữa máy móc thì có phải trả lương cho người lao động không ?

2. Tiền lương thử việc ?

Thưa luật sư: Em làm trong 1 công ty của Hàn quốc mà thuộc dạng tư nhân với mức lương 3t/ 1 tháng. Tiền trợ cấp ăn ca là 18.000 / 1 ngày + tăng ca(nếu có) là 52.000 là 70.000 k / 1 ngày. Hiện e làm việc được 10 ngày và 5 ngày tăng ca đang trong thời gian thử việc. Theo quy định công ty là 15 hàng tháng khóa sổ và lãnh lương là ngày 25. Em làm việc từ ngày 4/3/2016 va em xin nghỉ việc vào ngày 15/3/2016. Em thấy không phù hợp công việc nên em đã viết đơn xin nghỉ việc và công ty đã nhận. Em có hỏi là e có được thanh toán lương không thì công ty bảo chờ ...
Vậy cho em hỏi em có được thanh toán lương không. Nếu công ty không trả lương thì em phải nhờ ai giải quyết .

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời

Vì thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ về thời gian thử việc nên chúng tôi chưa thể khẳng định về việc bạn Công ty có yêu cầu bạn thử việc trong thời gian trái với quy định của pháp luật hay không?

Tuy nhiên, nếu trường hợp giữa bạn và công ty đã đạt được sự thỏa thuận về thời gian làm việc theo đúng quy định tại Điều 25 Bộ luật lao động năm 2019 thì về phía bạn hay công ty sẽ không phải chịu trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng

"Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác."

Đối với vấn đề tiền lương thử việc của bạn thì tại Điều 26 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về tiền lương trong thời gian thử việc như sau:

"Điều 26. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó."

Như vậy, bạn và công ty sẽ thỏa thuận cụ thể về mức lương nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc. Chính vì thế, nếu bạn tuân thủ đúng nghĩa vụ theo hợp đồng thử việc và kết hợp với thỏa thuận giữa bạn với Công ty thì bạn hoàn toàn được nhận lương thử việc của mình.

>> Xem thêm:  Sử dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phải đóng bảo hiểm xã hội không, thử việc có cần giấy phép lao động?

3. Cách tính lương làm đêm, ngày nghỉ lễ ?

Chào luật sư, tôi có thắc mắc mong luật sư giải đáp giúp tôi: Công ty tôi làm việc ca từ đêm 21h hôm trước đến 6h sáng hôm (được nghỉ 1h giữa ca) nếu các ngày làm việc ca đêm như vậy nếu ngày hôm sau là ngày lễ tết hoặc ngày chủ nhật thì thời gian 5-6 tiếng của ngày hôm sau đó công ty có phải tính lương ngày lễ tết hay không?

Cách tính lương làm đêm, ngày nghỉ lễ ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng Luật Minh Khuê, vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ điều 98 Bộ luật lao động năm 2019 :

1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:

a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

2. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.

3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghlễ, tết.

Trường hợp của bạn là bạn làm ca đêm từ 21h hôm trước đến 6h sáng hôm sau nên bạn sẽ được hưởng thêm tiền lương theo quy định trên. Ngoài ra, trong các ngày lễ, ngày nghỉ mà bạn vẫn tiếp tục làm việc thì bạn sẽ được hưởng lương ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương.

Điều 112 BLLĐ 2019 quy định về ngày nghỉ lễ, tết như sau:

1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

a) Tết Dương lịch: 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

b) Tết Âm lịch: 05 ngày;

c) Ngày Chiến thắng: 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);

d) Ngày Quốc tế lao động: 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);

đ) Quốc khánh: 02 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc sau);

e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

2. Lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài các ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.

3. Hằng năm, căn cứ vào điều kiện thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể ngày nghỉ quy định tại điểm b và điểm đ khoản 1 Điều này.

Trên đây là giải đáp thắc mắc của bạn, chúc bạn làm việc tốt. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?

4. Đòi lương thử việc như thế nào ?

Tôi muốn hỏi về việc đòi tiền lương thử việc. Tháng 2 tôi có thử việc tại một công ty ở TPHCM ở vị trí Nhân sự, trong thời gian thử việc, tôi có trình sếp kế hoạch tuyển dụng và sếp đã đồng ý mức chi phí. Khi tôi đăng tin tuyển dụng trên các trang web với mức phí ít hơn phí trên kế hoạch thì sếp lại nói do tôi không trình ký nên sếp chưa duyệt nên không đồng ý với mức phí trên, và khi tôi nghỉ việc tôi đã làm đơn nghỉ trước 10 ngày.

Nhưng khi nhận lương tôi bị trừ số tiền mà tôi đã đăng tin tuyển dụng và Giám Đốc giải trình là tôi phải chịu trách nhiệm vì tôi chưa trình ký. Vậy cho tôi hỏi bây giờ tôi dựa theo cơ sở nào để đòi lại số tiền mình đã bị trừ.

Tôi xin cảm ơn!

Đòi lương thử việc như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 102, Điều 130 của Bộ Luật lao động 2019 quy định như sau:

"Điều 102. Khấu trừ tiền lương

1. Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động đ bi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật này.

2. Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.

3. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân."

"Điều 129. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường."

Theo quy định trên, người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động. Trong trường hợp của bạn, nếu bạn có bằng chứng chứng minh giám đốc đã phê duyệt thì bạn không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bạn có thể gửi đơn yêu cầu lên Tòa án để được giải quyết. Mặt khác, việc bạn chưa được giám đốc phê duyệt mức phí thấp hơn so với dự kiến ban đầu thì công ty phải chứng minh.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách để người lao động được nghỉ sớm về quê ăn Tết Nguyên Đán

5. Tư vấn về vụ án đòi tiền lương ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Cơ quan tôi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án "Đòi tiền lương và trợ cấp thất nghiệp" của Tòa án (thông báo ký ngày 03/12/2013, cơ quan nhận được ngày 16/12/2013).

Sau khi nhận được thông báo, Tòa đã 2 lần tổ chức hòa giải nhưng không thành, lần hòa giải thứ 2 là ngày 03/4/2014. Sau đó không có thông tin gì từ Tòa án, cho đến nay đã hơn 1 năm. Hôm nay Tòa án tiếp tục gửi Giấy triệu tập tôi đến Tòa vào ngày 11/5/2015 để Dự hòa giải.

Vậy tôi muốn hỏi:

1. Việc giải quyết vụ án của Tòa như vậy có vi phạm thời gian xử lý vụ án hay không ? Hoặc có vi phạm Luật Tố tụng dân sự không?

2. Nếu có thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của cơ quan tôi và để giải quyết nhanh vụ án ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: TC.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty Luật Minh Khuê. Sau đây, tôi xin trả lời thắc mắc của bạn như sau:

Theo điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã quy định cụ thể về thời gian chuẩn bị xét xử đối với từng vụ án, hoạt động hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm được thực hiện trong khoảng thời gian chuẩn bị xét xử trong trường hợp cần thiết phiên hòa giải có thể được thực hiện nhiều lần nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ thời hạn tố tụng mà pháp luật đã quy định. Nếu không thực hiện đúng quy định này tòa án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;

b) Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;

c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;

e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Vậy theo nguyên tắc thì sau hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án nếu hai bên không đat được thỏa thuận thì phải ra quyết định đưa vụ việc ra xét xử. Với trường hợp của cơ quan bạn thì tòa án đã vi phạm thủ tục tố tục. Để đảm bảo quyền lợi của mình thì cơ quan bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến Tòa án cấp trên để giải quyết vụ việc.

Bạn có thể tham khảo mẫu đơn khiếu nại tại đây

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về lịch nghỉ tiết mới nhất năm 2020