Bài viết sau đây sẽ phân tích cụ thể về các vấn đề liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp hàng hải quốc tế bằng Toà trọng tài như khái niệm. đặc điểm của phương thức, phân loại và nguyên tắc giải quyết:
1. Khái niệm "giải quyết tranh chấp hàng hải bằng trọng tài"
Giải quyết tranh chấp hàng hải được hiểu là việc điều chỉnh các bất đồng, các xung đột dựa trên các căn cứ và bằng các phương thức khác nhau do các bên lựa chọn nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong lĩnh vực hàng hải quốc tế.
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội diễn ra vô cùng đa dạng, xen kẽ, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cũng là nền tảng làm phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp giữu các bên tham gia vào hoạt động thương mại. Để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quan hệ hàng hải, pháp luật quy định bốn phương thức giải quyết tranh chấp bao gồm: hoà giải, thương lượng, trọng tài và toà án. Trong đó, trọng tài là một phương thức rất phổ biến ở các quốc gia trên thế giới do những ưu điểm của phương thức này đem lại.
Trên thế giới hiện nay cũng tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về cách định nghĩa thế nào là trọng tài. Tuy nhiên dù hiểu theo nghĩa nào thì nhìn một cách chung nhất, trọng tài được hiểu là một công cụ mà người ta sử dụng để giải quyết các tranh chấp do bên thứ ba độc lập thực hiện nhằm giải quyết xung đột giữa các bên theo thủ tục đặc trưng của nó: do các bên thỏa thuận, vai trò trung lập, đưa ra quyết định có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành... Những đặc trưng này thể hiện bản chất của trọng tài là một hình thức tài phán tư, kết hợp được hai mặt: thỏa thuận và tài phán 5 . Từ đó có thể rút ra rằng, giải quyết tranh chấp hàng hải bằng trọng tài là việc sẽ có một Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là một bên trung gian, độc lập giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động hàng hải bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định. Trọng tài hàng hải giải quyết các tranh chấp liên quan chủ yếu tới các hợp đồng vận chuyển hàng hóa, bảo hiểm, hoặc vận chuyển bằng tàu biển. Các tranh chấp trong lĩnh vực hàng hải có thể được đưa ra giải quyết tại các Trung tâm trọng tài về hàng hải có uy tín như Hiệp hội Trọng tài hàng hải London hay Hội đồng Trọng tài hàng hải New York. Ngoài ra, nhiều Trung tâm trọng tài khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng hải cũng có thể giải quyết như Hiệp hội Sở Giao dịch thuê tàu Nhật Bản, Tòa án Trọng tài hàng hải Mátxcơva, Trung tâm Trọng tài hàng hải Gdynia Balan, Phòng Trọng tài hàng hải Paris, Hội đồng Trọng tài hàng hải Trung Quốc, Phòng Trọng tài hàng hải Singapore,…
2. Đặc điểm của phương thức trọng tài trong giải quyết tranh chấp hàng hải
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp hàng hải bằng trọng tài có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, đây là phương thức giải quyết tranh chấp có thể là một tổ chức hoặc cá nhân. Họ được các bên thỏa thuận lựa chọn để đứng ra giải quyết tranh chấp, độc lập giữa các bên và đưa ra phán quyết buộc các bên phải áp dụng
Thứ hai, trọng tài tuy là một phương thức ngoài tòa án nhưng cũng có những thủ tục tố tụng chặt chẽ. Khi thành lập và hoạt động, các tổ chức trọng tài thườngm trực sẽ có quy định riêng về thủ tục mà các trọng tài khi giải quyết tranh chấp phải tuân theo. Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận quy trình riêng và tất cả các bên (bao gồm cả trọng tài viên) phải tuân thủ đúng thủ tục đã đặt ra.
Thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài mang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên thỏa thuận về luật áp dụng, trình tự tố tụng, trọng tài viên...) vừa mang tính tài phán (có giá trị bắt buộc thi hành).
3. Phân loại hình thức trọng tài
Tương tự như xuất phát điểm gốc là trọng tài thương mại, trọng tài giải quyết các tranh chấp hàng hải được tổ chức dưới hai hình là trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) và trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc).
3.1. Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-học)
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các bên tranh chấp để giải quyết tranh chấp và tự giải thể khi hoàn thành công việc. Tính chất vụ việc của hình thức này được thể hiện bởi một số đặc điểm sau :
Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được các bên thỏa thuận khi có tranh chấp xảy ra và tự giải thể khi xong việc.
Thứ hai, trọng tài vụ việc không có một bộ máy điều hành cụ thể, không có danh sách trọng tài riêng và không có trụ sở chính. Trọng tài viên được các bên lựa chọn có thể nằm trong bất kỳ tổ chức trọng tài nào.
Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng, quy trình tố tụng dành riêng cho mình mà thường là do các bên thỏa thuận lựa chọn. Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn những quy trình giải quyết tranh chấp của những tổ chức uy tín trong nước hoặc trên thế giới để trọng tài vụ việc áp dụng và đưa ra phán quyết. Trong thực tế để tránh sự phức tạp trong việc xây dựng các quy tắc trọng tài, các bên tranh chấp thường thỏa thuận với nhau lựa chọn áp dụng các quy tắc trọng tài nổi tiếng trên thế giới như quy tắc tố tụng của Uỷ ban luật Thương mại quốc tế bên Liên hợp quốc (quy tắc UNCITRAL) hay là quy tắc tố tụng của Phòng thương mại quốc tế (ICC)
Vậy nên, khi tiến hành xét xử, trọng tài viên không bị lệ thuộc vào quy tắc tố tụng nào, nhưng vẫn phải đảm bảo những nguyên tắc chung như khách quan, không trái luật và đạo đức xã hội. Và ngay cả bản thân các trọng tài viên được lựa chọn cũng không hề bị giới hạn trong phạm vi nào, miễn sao việc thỏa thuận lựa chọn đó không vi phạm pháp luật hiện hành. Phương thức trọng tài vụ việc chỉ được nước ta ghi nhận khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 ra đời. Với sự linh hoạt của mình, trọng tài vụ việc làm tăng quyền tự định đoạt, giảm chi phí tố tụng và thời gian giải quyết vụ việc cho các bên đương sự. Bên cạnh đó, trọng tài vụ việc sẽ bị phụ thuộc vào thiện chí của các bên. Trong quá trình tố tụng, nếu một bên không thiện chí thì nguy cơ bị trì hoãn là rất cao. Mặt khác, sẽ không có tổ chức nào hỗ trợ và giám sát quá trình tố tụng mà chủ yếu phụ thuộc vào khả năng của trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp.
3.2. Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có tổ chức, hoạt động thường xuyên, có điều lệ, quy tắc tố tụng riêng. Các tranh chấp trong lĩnh vực hàng hải có thể được đưa ra giải quyết tại các trung tâm trọng tài về hàng hải có uy tín. Thực tiễn ghi nhận một số trung tâm trọng tài quốc tế chuyên giải quyết các tranh chấp hàng hải nổi tiếng như: Hiệp hội Trọng tài hàng hải London (LMAA), Hội trọng tài hàng hải New York (SMA), Phòng trọng tài hàng hải Paris (CAMP), Uỷ ban Trọng tài Hàng hải Tokyo (TOMAC), Phòng Trọng tài hàng hải Singapore [8] và ở Việt Nam thì có Trọng tài quốc tế Việt Nam – VIAC. Hình thức phổ biến nhất vẫn là trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài có một số đặc trưng như:
Thứ nhất, trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân và độc lập với nhau. Giữa các bên không tồn tài quan hệ phân cấp hành chính theo cả chiều ngang và chiều dọc.
Thứ hai, trung tâm trọng tài không nằm trong hệ thống và chỉ chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước nhưng vẫn chịu sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước Nó được hình thành do các trọng tài viên, sau đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Trung tâm trọng tài hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải kinh phí hoạt động dựa vào nguồn vốn, nguồn thu từ các vụ giải quyết tranh chấp. Nhà nước chỉ quản lý các trung tâm trọng tài bằng việc tạo ra những hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài...
Thứ ba, bộ máy của tổ chức trọng tài đơn giản. Bao gồm: Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng tài cử. Và các trọng tài viên trong danh sách của trung tâm.
Thứ tư, trung tâm trọng tài tự quyết định về một lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng. Cụ thể:- Trung tâm trọng tài tự xây dựng quy tắc tố tụng riêng và thường dựa trên cơ sở là một số bản quy tắc về trọng tài hoặc một số công ước có liên quan. Mỗi trung tâm trọng tài với tư cách là một pháp nhân sẽ có điều lệ riêng. Cùng với quy tắc tố tụng, khi giải quyết tranh chấp trọng tài viên chỉ cần tuân thủ điều lệ, quy tắc tố tụng và không vi phạm pháp luật hiện hành, đạo đức xã hội. Mỗi trung tâm trọng tài sẽ tự chọn cho mình một lĩnh vực hoạt động phụ thuộc vào năng lực của những trọng tài viên, bên cạnh đó hoàn toàn có thể thay đổi dưới sự chấp nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cuối cùng, quá trình giải quyết tranh chấp của tổ chức được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách trọng tài viên của trung tâm. Vậy nên, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm. Ưu điểm lớn nhất của trọng tài thường trực so với trọng tài vụ việc là có một quy tắc tố tụng riêng biệt. Các bên đương sự có thể tìm hiểu và chọn cho mình phương thức tố tụng sao cho có lợi nhất cho mình. Bên cạnh đó, các trung tâm trọng tài thường có sự hỗ trợ của các chuyên gia trong quá trình giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, trọng tài thường trực cũng có hạn chế, lớn nhất là tốn kém nhiều chi phí vì ngoài việc phải trả chi phí thù lao cho trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các trung tâm trọng tài. Và thời gian sẽ bị kéo dài bởi trình tự thủ tục tố tụng.
4. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hàng hải bằng trọng tài
4.1. Nguyên tắc thoả thuận
Trong giải quyết các tranh chấp phát sinh, ý chí của các bên luôn được đặt lên hàng đầu (miễn sao không vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến đạo đức xã hội….), trong chế định trọng tài giải quyết tranh chấp hàng hải cũng không ngoại lệ. Các bên tự mình thỏa thuận, thống nhất ý chí sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp hay trọng tài chỉ có thẩm quyền khi các bên trao cho. Sự thỏa thuận chỉ được xem là có hiệu lực khi một trong hai bên không bị lừa dối, nhầm lẫn. Vậy nên, để đi đến giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì thỏa thuận chính là tiền đề.
4.2. Nguyên tắc độc lập
Một số tổ chức trọng tài yêu cầu trọng tài viên xác nhận bằng văn bản rằng họ đang và sẽ độc lập với các bên và yêu cầu trọng tài viên trình bày bất kỳ sự kiện hoặc chi tiết nào có thể có khiến các bên nghi ngờ về tính độc lập của họ. Theo quy định tại Điều 20 Luật trọng tài thương mại năm 2010, trọng tài viên phải đảm bảo những điều kiện tối thiểu. Tất cả những quy định trên đều nhằm đảm bảo nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan trọng việc giải quyết tranh chấp thương mại. Khi tham giải giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải thật sự là người thứ ba độc lập, vô tư, không liên quan đến các bên có tranh chấp cũng như không có bất kỳ lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó. Để giải quyết tranh chấp một cách công bằng, hợp lý, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên, trọng tài viên phải tuân theo các quy định của pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền mọi người sống và làm việc theo pháp luật, bản thân pháp luật đã hàm chứa yếu tố công bằng và văn minh. Nhà nước luôn kêu gọi, đề ra khẩu hiệu “sống và làm việc theo pháp luật” để từ đó mọi người nghiêm chỉnh chấp hành nhưng không phải lúc nào và ở đâu người dân cũng đều thực hiện đúng theo pháp luật. Khi giải quyết các tranh chấp theo thủ tục trọng tài, trọng tài viên phải tuân theo các quy định của pháp luật vì nếu trọng tài viên không căn cứ vào pháp luật, nhận hối lộ hoặc có hành vi vi phạm đạo đức trọng tài viên thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài.
4.3. Nguyên tắc công bằng
Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Theo khoản 3 Điều 4 Luật trọng tài thương mại thì “Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”. Theo nguyên tắc này thì giữa các bên có tranh chấp hàng hải khi tham gia vào giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hàng hải thì đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Họ được đảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải quyết. Các bên có thể lựa chọn trung tâm trọng tài, hình thức trọng tài, trọng tài viên…Và giữa các bên có thể thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết tranh chấp.
4.4. Tôn trọng sự thoả thuận của các bên
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh (khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010). Như vậy, các bên có thể thuận thỏa thuận trọng tài trước khi có tranh chấp hoặc sau khi có tranh chấp. Một trong những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài là các bên có tranh chấp được đảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải quyết với điều kiện các thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội. Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết mà trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định của hội đồng trọng tài sẽ bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên. Quyền hạn của hội đồng trọng tài là do các bên giao cho họ. Các bên thỏa thuận chọn trung tâm trọng tài nào và hình thức trọng tài nào thì chỉ có trung tâm trọng tài và hình thức trọng tài đó có thẩm quyền giải quyết. Các bên lựa chọn trọng tài viên nào thì trọng tài viên đó có thẩm quyền giải quyết. Nếu các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết thì chỉ cótrọng tài viên duy nhất đó có quyền giải quyết. Các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp. Chỉ khi không có thỏa thuận của các bên về địa điểm giải quyết thì hội đồng trọng tài mới quyết định. Các bên còn có quyền thỏa thuận thời gian mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Chủ tịch hội đồng trọng tài chỉ có quyền quyết định thời gian mở phiên họp giải quyết nếu các bên không có thỏa thuận khác.
4.5. Nguyên tắc giải quyết một lần
Theo khoản 5 Điều 4 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì “Phán quyết trọng tài là chung thẩm” Đây là nguyên tắc quan trọng và đặc thù của loại hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài này. Khi trọng tài đã đưa ra phán quyết thì có hiệu lực thi hành ngay và không có kháng cáo kháng nghị. Nguyên tắc này có hiệu quả giải quyết các vụ việc nhanh chóng, dứt điểm.
Như vậy, với sự gia tăng ngày càng nhiều về số lượng và sự phức tạp về nội dung, cũng như tính chất của hoạt động hàng hải là việc tàu biển phải di chuyển qua nhiều quốc gia khác nhau, dẫn đến việc phát sinh nhiều vấn đề pháp lý tranh chấp hàng hải là không thể tránh khỏi. Có thể kể đến những trường hợp phổ biến thường không may xảy ra như tàu bị đắm, bị va cham đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ giao hàng cũng như gây thiệt hại ít nhiều về chất lượng của đối tượng giao dịch, ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, từ đó sẽ phát sinh các tranh chấp trên thực tiễn. Và phương thức trọng tài luôn được xem là một trong những phương thức tối ưu của các bên khi tiến hành việc giải quyết tranh chấp hàng hải.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập