1. Vai trò của giải thích hiến pháp

 

Hiến pháp là luật có vai trò và vị trí đặc biệt, là luật gốc- như giới luật học trong tất cả các hệ thống pháp luật vẫn định nghĩa. Hiến pháp quy định những nền tảng chủ yếu cho việc tổ chức đời sống xã hội, những nguyên tắc cơ bản cho việc tổ chức bộ máy nhà nước, quy định chế độ chính trị, kinh tế, quyền và lợi ích cơ bản của công dân. Xuất phát từ nguyên tắc về tính tối thượng của Hiến pháp mà người ta thường đặt vấn đề về tính hợp hiến. Chính do tầm quan trọng đặc biệt của Hiến pháp nên việc giải thích Hiến pháp được tiếp cận một cách khác so với việc giải thích pháp luật.

Một trong những điểm khác biệt giữa giải thích Hiến pháp và giải thích luật là: giải thích luật nhằm mục đích áp dụng vào một tình huống cụ thể trong khi giải thích Hiến pháp là để tuyên bố một luật nào đó hay một phần của luật không phù hợp với Hiến pháp; giải thích luật là để hiện thực hóa ý chí của cơ quan lập pháp nhưng giải thích Hiến pháp có thể dẫn tới việc phủ nhận mong muốn của nhà lập pháp thể hiện trong những luật bị bác bỏ hoặc bị thay đổi.

Trong giải thích Hiến pháp, điều quan trọng nhất là việc xác định mục đích khách quan của quy định Hiến pháp hay toàn văn Hiến pháp. Mục đích của giải thích Hiến pháp là xác định mục đích thực của quy định cần giải thích nhằm loại bỏ các mục đích mà những người giải thích khác muốn áp đặt cho nó. Để đạt được điều này, cần xác định được nội hàm mà quy định được giải thích hàm chứa ở thời điểm nó được ban hành.

Việc giải thích Hiến pháp ở các nước được tiếp cận khá khác nhau cho dù những nguyên lý về giải thích Hiến pháp có thể được coi là nền tảng chung. Một số nước quy định việc giải thích Hiến pháp ngay trong bản thân Hiến pháp. Ví dụ, Hiến pháp Singapore tiên liệu những thuật ngữ, những khái nhiệm có thể dẫn đến sự hiểu không đúng hoặc gây mâu thuẫn trong cách hiểu về mục đích của Hiến pháp và quy định những giải thích cần thiết. Ví dụ Hiến pháp Singapero quy định: “Nội các được hiểu là Nội các thành lập theo Hiến pháp này”; “Luật hiện hành có nghĩa là bất cứ luật nào có hiệu lực như là một phần của pháp luật Singapore trước thời điểm bắt đầu Hiến pháp này”; “Pháp luật bao gồm luật thành văn và bất cứ luật của Vương quốc Anh hay những văn bản đang hiện hành ở Singapore và tiền lệ pháp đang được áp dụng ở Singapore và bất cứ tập quán pháp hay thông lệ nào có hiệu lực pháp luật ở Singapore”. Hàng loạt các giải thích Hiến pháp được quy định trong Hiến pháp Singapore. 

2. Thẩm quyền giải thích hiến pháp Ở Việt Nam

 

Giải thích hiến pháp thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội – chủ thể thuộc nhánh lập pháp. UBTVQH là một thiết chế đặc biệt xuất hiện ở những quốc gia có sự ảnh hưởng của mô hình pháp luật Xô Viết như Trung Quốc, Việt Nam, Lào. Lập luận để trao quyền giải thích hiến pháp cho UBTVQH thường được diễn giải như sau:  nhánh lập pháp làm ra luật nên có khả năng hiểu và xác định đúng nhất hiệu lực, phạm vi áp dụng của đạo luật; chỉ có Quốc hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân mới là tiếng nói của dân trong hoạt động giải thích;  Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, Hiến pháp là đạo luật tối cao nên Toà án là cơ quan có địa vị thấp hơn nên không thể giải thích một văn bản của cơ quan cấp trên .

3. Hạn chế trong giải thích hiến pháp

 

Một là, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và mới đây nhất là Hiến pháp năm 2013 đều chưa phân biệt được hoạt động giải thích hiến pháp và giải thích pháp luật nói chung nên vẫn soạn thảo và ban hành hoạt động giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh trong cùng một điều luật. Giải thích hiến pháp cần phải cẩn trọng bởi các yếu tố như ý nghĩa của bản văn, ý định lập hiến, ngôn ngữ, bối cảnh lịch sử,…Giải thích hiến pháp đặc biệt quan trọng vì liên quan đến nhiều vấn đề như hình thức chính thể của nhà nước, tính hợp lý, hợp pháp của các văn bản pháp luật khác. Như vậy, cần phải phân biệt rõ ràng hoạt động giải thích hiến pháp và hoạt động giải thích pháp luật nói chung như ban hành nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật, đạo luật,… bởi tính chất đặc thù của bản văn tối cao này. Hai là, UBTVQH là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp là chưa hợp lý. Nên mở rộng thẩm quyền giải thích pháp luật nói chung và hiến pháp nói riêng cho Toà án vì nhìn nhận dưới góc độ khoa học, UBTVQH chỉ nên là chủ thể giải thích Pháp lệnh – loại văn bản do UBTVQH ban hành. Điều này hợp với logic trong thực tiễn bởi Toà án luôn có vai trò lớn trong việc giải thích pháp luật thông qua các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán và các công văn của TANDTC. Vì vậy, cần trao cho Toà án nhiều quyền hơn trong giải thích pháp luật. Ba là, việc UBTVQH không trao quyền giải thích hiến pháp cho Toà án phần nào giống với Trung Quốc khi cả hai quốc gia đều tạo ra tình huống “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Ở đây, Quốc hội có vai trò “hỗn hợp” (hybrid)  khi thực hiện cả chức năng lập pháp (làm luật) và chức năng tư pháp (giải thích luật).

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy thẩm phán chưa có các công cụ để giải thích hiến pháp mà các thẩm phán trên thế giới đang sử dụng. Việc thiếu vắng các lập luận hiến định nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống nằm ngoài dự liệu của những nhà lập hiến đặt ra câu hỏi về chất lượng giải thích hiến pháp và bảo hiến ở Việt Nam. Do đó, Hiến pháp Việt Nam nói chung và giải thích hiến pháp ở Việt Nam nói riêng cần phải hoà nhập cùng với các quy phạm quốc tế và địa phương, đặc biệt trong vấn đề xây dựng cơ sở lý luận về phương pháp giải thích hiến pháp.

4. Giao cho hệ thống Tòa án giải thích Hiến pháp có thực sự khả thi không?

Giải thích Hiến pháp có tầm quan trọng đặc biệt và các quốc gia trên thế giới bao giờ cũng dành cho việc giải thích Hiến pháp một sự cẩn trọng và sự bảo đảm độ chính xác tối đa. Việc thành lập cơ chế bảo hiến thích hợp với điều kiện KT – XH và hệ thống chính trị của Việt Nam đang được nghiên cứu và đề xuất. Trong số các giải pháp đề xuất có giải pháp về trao cho hệ thống tòa án giải thích Hiến pháp bằng việc thành lập Tòa án Hiến pháp hay một thiết chế tương tự. Xin luận bàn một số điểm xung quanh giải pháp này.

 Như trình bày ở trên, giải thích Hiến pháp có thể thực hiện ở dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi hình thức ứng với điều kiện KT – XH cụ thể nhất định mà không thể máy móc áp dụng kể cả khi có điều kiện lịch sử, truyền thống pháp luật giống nhau. Vì vậy, yếu tố lịch sử, truyền thống cụ thể của mỗi quốc gia cần được đặt lên hàng đầu khi thiết kế thiết chế chức năng giải thích Hiến pháp, bảo vệ Hiến pháp. Với cách tiếp cận như vậy, có thể nói rằng việc giao cho hệ thống Tòa án giải thích Hiến pháp là chưa thực sự khả thi, vì những lý do sau đây. 

Thứ nhất, tổ chức bộ máy của Nhà nước Việt Nam không theo nguyên tắc phân chia quyền lực với mức độ độc lập.

Thứ hai, do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở thời điểm hiện tại, khó có thể giao cho các thẩm phán quyền giải thích Hiến pháp. Ngay cả những văn bản pháp luật rất thông thường, thẩm phán vẫn giải thích sai, áp dụng sai. Hiến pháp là chính trị, là pháp luật, là triết lý, là lịch sử và kinh tế xã hội kết hợp lại. Giải thích Hiến pháp là việc làm vô cùng khó khăn, nhất là khi việc giải thích Hiến pháp dẫn đến sự hủy bỏ văn bản của Chính phủ, của TANDTC hay VKSNDTC. Bản lĩnh của thẩm phán và sự ủng hộ của xã hội có nhận thức cao về pháp luật đối với việc giải thích của thẩm phán- là hai trong số những điều kiện cần thiết tối thiểu cho việc giao cho Tòa án giải thích Hiến pháp. Hai điều kiện đó khó có thể bảo đảm được trong thời điểm hiện nay ở nước ta.

Thứ ba, nhìn lại lịch sử lập hiến của đất nước, kể cả trong thời kỳ Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp được nhiều học giả coi là có nhiều giá trị dân chủ và lịch sử thì Tòa án chưa bao giờ được giao thẩm quyền giải thích Hiến pháp.

Thứ tư, Hiến pháp phản ánh rất tập trung nền chính trị, hệ thống pháp luật và tổ chức Tòa án của đất nước. Với hệ thống chính trị, tư pháp như hiện nay, việc giao cho Tòa án giải thích Hiến pháp khó mang lại được những giá trị đích thực. 

Việc trao cho hệ thống Tòa án giải thích Hiến pháp trong điều kiện hiện tại là không khả thi, cần tiếp tục nghiên cứu để hình thành thiết chế khác để giải thích và bảo vệ Hiến pháp phù hợp với những hoàn cảnh lịch sử và hệ thống chính trị, nhận thức và hiểu biết pháp luật cụ thể của đất nước.

5. Thẩm quyền giải thích hiến pháp trên thế giới

Giải thích hiến pháp cũng có nhiều sự khác biệt ở các quốc gia do gắn liền với quá trình hình thành cơ chế tài phán hiến pháp. Ở những quốc gia có Toà án Hiến pháp (Constitutional Court) như Đức hoặc Italy, cơ quan này có quyền lực cao nhất trong việc giải thích hiến pháp. Ở Pháp, vì Hội đồng Hiến pháp (Conseil Constitutionnel)  là một dạng thiết chế bảo hiến được trao quyền giải thích hiến pháp. Ngoài ra, những quốc gia không có toà án hiến pháp hoặc thiết chế bảo hiến riêng biệt, toà án có vai trò giải thích hiến pháp. Ở Mỹ, Tối cao Pháp viện đã đưa ra phán quyết trong án lệ nổi tiếng Marbury v. Madison8 đã quy định quyền tài phán và giải thích hiến pháp cho các toà án thường.

6. Trường phái giải thích hiến pháp trên thế giới

Dù sử dụng phương pháp lập luận nào, nhìn chung có hai trường phái chính trong việc giải thích hiến pháp: giải thích theo ý của nhà lập hiến và giải thích theo bối cảnh mới. Trường phái đầu tiên thường được gọi là giải thích theo nghĩa gốc (originalism) – giải thích hiến pháp “tĩnh” còn trường phái thứ hai được gọi là giải thích không theo nghĩa gốc (non-originalism) – giải thích hiến pháp “động”. Trường phái giải thích theo nghĩa gốc hướng đến một trong hai nguồn nghĩa: ý định của những nhà lập hiến  và  ý nghĩa gốc . Trường phái này có mối quan hệ mật thiết với những người sử dụng cách lập luận nguyên bản (textualist) và chủ nghĩa kiến tạo “cứng” (strict constructionism). Ngược lại, trường phái giải thích không theo nghĩa gốc rất gần với chủ nghĩa kiến tạo “mềm” (loose constructionism) và chủ nghĩa thực dụng (pragmatism)  – nghĩa là luôn ủng hộ việc giải thích hiến pháp một cách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê