Trong thực tiễn, việc hạn chế để tiến đến loại trừ việc sản xuất, tàng trữ, sử dụng một số loại vũ khí có tính năng giết người hàng loạt như vũ khí hạt nhận, vũ khí hoá học, vũ khí sinh học và một số loại vũ khí thông thường khác. Sự hợp tác quốc tế ở lĩnh vực giải trừ quân bị đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và củng cố hòa bình, an ninh quốc tế. Sự hợp tác này được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu thông qua việc đàm phán, thương lượng để kí kết các điều ước quốc tế song phương hoäc đa phương giữa các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc quân sự như Mĩ, Nga... như Hiệp ước về cấm phổ biến vũ khí hạt nhân ngày 01.7.1968; Hiệp ước cấm đặt vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác dưới đáy biển và đại dương cũng như lòng đất dưới đáy biển và đại dương ngày 11.02.1971; Công ước về cấm sử dụng kĩ thuật để thay đổi môi trường cho mục đích quân sự hoặc mục đích thù địch khác ngày 18.5.1977; Công ước cấm hạn chế sử dung một số vũ khí thông thường có thể gây ra đau đớn quá mức hoặc tấn công không phân biệt mục tiêu ngày 10.10.1980; Công ước cấm sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hoá học ngày 13.01.1993.

Từ nửa sau thế kỷ XX, vấn đề giải trừ quân bị trở thành vấn đề có tầm quan trọng sống còn đối với cộng đồng nhân loại. Bài học thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy nhũng cuộc chạy đua vũ trang đã dẫn đến thảm hoạ và đau thương cho nhân dân ở nhiều nơi trên thế giới. Đó là chưa nói đến mức độ nguy hiểm của chạy đua vũ khí hạt nhân còn có thể dẫn đến thảm hoạ khôn lường cho cả hành tinh chúng ta.

1. Nguyên tắc giải trừ quân bị

Nguyên tắc giải trừ quân bị lần đầu tiên được đề cập trong Hiến chương Liên hợp quốc, tại các điều 11, 26 và 47. Điều 17 Hiến chương quy định: Đại hội đồng xem xét những nguyên tắc hợp tác chung, nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, kể cả nguyên tắc giải trừ quân bị và hạn chế vũ trang. Như vậy, theo Hiến chương, nguyên tắc giải trừ quân bị nằm trong danh sách các nguyên tắc chung của hợp tác nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.

Nguyên tắc giải trừ quân bị tiếp tục được phát triển trong các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong các điều ước quốc tế đa phương và song phương khác. Đặc biệt, Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 20-11-1959 "Về giải trừ quân bị toàn diện và triệt để" đã thể hiện quyết tâm của Liên hợp quốc nhằm loại trừ hoàn toàn các phương tiện vật chất tiến hành chiến tranh.

Nội dung của nguyên tắc giải trừ quân bị đặt ra cho các quốc gia những nghĩa vụ pháp lý quốc tế phải nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định hiện hành về giải trừ quân bị, tham gia vào các biện pháp được quy định trong các điều ước quốc tế về hạn chế chạy đua vũ trang và giải trừ quân bị đồng thời xây dựng những quy phạm và ký kết các điều ước quốc tế mới trong lĩnh vực giải trừ quân bị.

Bước đi quan trọng đầu tiên nhằm cụ thể hoá nguyên tắc giải trừ quân bị là thoả thuận đạt được giữa Liên Xô và Mỹ về những nguyên tắc cơ bản trong đàm phán về giải trừ quân bị, trong đó có nội dung quan trọng, như đòi hỏi sự cân bằng các biện pháp về giải trừ quân bị để không một quốc gia hay một nhóm quốc gia nào có thể chiếm được ưu thế quân sự, thực hiên giải trừ quân bị dưới sự kiểm soát quốc tế nghiêm ngặt và hiệu quả, qua đó củng cố an ninh quốc tế.

Tiếp theo thoả thuận nêu trên, giữa các quốc gia đã đạt được thoả thuận cụ thể về giải trừ quân bị thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế đa phương và song phương.

>> Xem thêm:  Tổ chức quốc tế là gì ? Đặc điểm, phân loại tổ chức quốc tế

2. Các điều ước quốc tế về giải trừ quân bị

Trong nửa thế kỷ qua đã cố nhiều điều ước quốc tế về giải trừ quân bị với những nôi dung khác nhau và ở phạm vi khác nhau. Trước tiên phải kể đến các điều ước quốc tế liên quan đến vũ khí giết người hàng loạt.

Trước tiên là Công ước năm 1972 về cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ vũ khí vi trùng, vũ khí độc hại và phá huỷ chúng. Công ước có hiệu lực năm 1975, với sự tham gia của hơn 150 quốc gia trên thế giới. Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên dù bất cứ khi nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đều không được nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ, sử dụng, cất giữ các chất vi trùng và các chất độc hại cũng như vũ khí, thiết bị, phương tiện chuyên chở các chất vi trùng và độc hại dành cho mục đích thù địch và xung đột vũ trang. Các quốc gia có nghĩa vụ phá huỷ hoặc thay đổi tính năng toàn bộ các chất và thể loại vũ khí trên đây vào mục đích hoà bình sao cho nhanh chóng, trong vòng 9 tháng, kể từ khi Công ước có hiệu lực.

Tiếp theo là Công ước năm 1993 về cẩin nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hoá học và phá huỷ chúng (có hiệu lực ngày 29-4-1997). Theo Công ước này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ không nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hoá học và huỷ diệt chúng trong thời hạn 2 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực.

Năm 1963, cộng đồng thế giới đã đạt được thoả thuận về việc ký kết Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển, trong vũ trụ và dưới nước. Có gần 140 nước là thành viên Hiệp ước này (trong đó có Việt Nam). Việc cấm hoàn toàn thử vũ khí hạt nhân được đề cập trong Hiệp ước về cấm thử hoàn toàn vũ khí hạt nhân, được ký kết ngày 24-9-1996. Tuy nhiên, đến nay Hiệp ước vẫn chưa có hiệu lực.

Trong vấn đề vũ khí hạt nhân còn có Hiệp ước năm 1968 về không phổ biến vũ khí hạt nhân, gồm 187 nước tham gia ký kết và phê chuẩn. Hiệp ước quy định hệ thống nghĩa vụ của các quốc gia hạt nhân đóng cửa mọi con đường chuyển giao vũ khí hạt nhân và các quốc gia không có vũ khí hạt nhân không được tiếp nhận loại vũ khí này.

Để bảo đảm không phổ biến vũ khí hạt nhân, vấn đề xây dựng quy chế cho những "khu vực phi hạt nhân" ờ phạm vi lãnh thổ quốc tế cũng như trên lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia được đặt ra. Một trong những khu vực phi hạt nhân đầu tiên là Nam cực, trên cơ sở Hiệp ước năm 1959 về Nam cực, cấm mọi việc thử vũ khí hạt nhân và chôn vùi mọi chất liệu phóng xạ ở Nam cực.

Ngoài Nam cực, còn có các khu vực phi hạt nhân khác, được xây dựng trên cơ sở các điều ước quốc tế về khu vực không có vũ khí hạt nhân, như ở châu Mỹ Latinh, trên cơ sở Hiệp ước năm 1967; ở vùng Nam Thái Bình Dương, trên cơ sở Hiệp ước năm 1985; vùng Đông Nam Á, trên cơ sở Hiệp ước năm 1995; ở châu Phi, trên cơ sở Hiệp ước năm 1996. Những Hiệp ước này đều quy định nghĩa vụ của các quốc gia trong khu vực không phổ biến, không thử, không sản xuất, không sở hữu, không sử dụng vũ khí hạt nhân và không cho phép nước khác triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ nước mình.

Trong quan hệ song phương, Liên Xô (hiện nay là Nga) và Mỹ là hai cường quốc hạt nhân lớn nhất thế giới, nên quan hệ giữa họ về giải trừ quân bị có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh toàn thế giới. Các điều ước quốc tế giữa Liên Xô (L.B Nga kế thừa) và Mỹ về hạn chế vũ khí tiến công chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tiến trình giải trừ quân bị. Điều ước quốc tế đầu tiên trong lĩnh vực này là Hiệp ước vô thời hạn Xô - Mỹ năm 1972 về hạn chế hệ thống phòng thủ tên lửa và Thoả thuận tạm thòi Xô - Mỹ vê một số biện pháp trong lĩnh vực hạn chế vũ khí tiến công chiến lược. Hiệp ước này quy định mỗi bên (Liên Xô và Mỹ) chỉ có hai khu vực triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa. Nhưng, theo Nghị định bổ sung năm 1974 thì mỗi bên chỉ có quyền triển khai ở một khu vực trong phạm vi bán kính 150 km.

Năm 1979 Liên Xô và Mỹ đã ký Hiệp ước về hạn chế vũ khí tiến công chiến lược. Theo Hiệp ước này, vũ khí tiến công chiến lược bao gồm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo đặt ở tàu ngầm, các loại máy bay ném bom hạng nặng và tên lửa đạn đạo không đối đất. Hai bên đã thoả thuận hạn chế số lượng đầu đạt hạt nhân các loại của mỗi bên chỉ ờ mức 2400 đơn vị. Hiệp ước này sau khi được ký, dù chưa có hiệu lực nhưng vẫn được các bên tuân thủ cho đến năm 1986, khi Mỹ đơn phương rút khỏi Hiệp ước.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Năm 1991 Liên Xô và Mỹ ký Hiệp ước về cắt giảm và hạn chế vũ khí tiến công chiến lược giai đoạn 1. Hiệp ước này không bao giờ được các bên phê chuẩn. Trước tình hình này, năm 1993 Nga và Mỹ đã ký Hiệp ước mới về tiếp tục cắt giảm và hạn chế vũ khí tiến công chiến lược giai đoạn 2. Mỹ đã phê chuẩn Hiệp ước này nhưng Đuma Nga không phê chuẩn, vì cho rằng Nga bị thiệt thòi nhiều hơn.

Ngoài các loại vũ khí tiến công chiến lược kể trên, trong các loại vũ khí thuộc diện giải trừ quân bị còn có tên lửa tầm trung và tầm ngắn. Loại tên lửa này đã được Liên Xô và Mỹ phá huỷ hoàn toàn theo Hiệp ước Xô - Mỹ năm 1987 về hủy bỏ tên lửa tầm trung và tầm ngắn. Thế nhưng hiện nay, loại tên lửa này vẫn còn ở một sớ nước khác, trong đó có các nước đồng minh của Mỹ ở NATO.

3. Chương trình giải trừ quân bị

Các chương trình về giải trừ quân bị được coi như là những biện pháp phòng ngừa trong thời bình để loại trừ những phương tiện, vũ khí cho những cuộc xung đột vũ trang, tạo điều kiện cho các giải pháp hoà bình và phục vụ mục đích nhân đạo, tránh tổn thất và thương vong cho dân thường. Từ ý nghĩa trên, Chương trình giải trừ quân bị của Hội đồng bảo an đã được thực hiện trên ba lĩnh'vực lớn theo các vũ khí hiên hành, đó là giải trừ vũ khí hạt nhân và không phổ biến vũ khí hạt nhân; vũ khí hoá học và sinh học; vũ khí thông thường. Mỗi lĩnh vực này được phát triển những hoạt động toàn diện khác nhau. Ví dụ, đối với vũ khí thông thường, Hội đồng bảo an thúc đẩy hoạt động kiểm soát buôn lậu vũ khí, thúc đẩy sự minh bạch trong chính sách mua bán vũ khí của quốc gia... về phương diện pháp lý, với những hoạt động như trên, Hội đồng bảo an đã tạo được một cơ chế giải quyết toàn diên các nguy cơ đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế.

4. Các biện pháp kiểm soát để thực hiện giải trừ quân bị

Kiểm soát là một trong những yếu tố bắt buộc của tiến trình giải trừ quân bị. Trong thực tế, các loại hình kiểm soát khác nhau đã được áp dụng.

Trước hết, công việc kiểm soát được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật quốc gia nằm ngoài lãnh thổ nước bị kiểm soát. Đó là các trạm quan sát địa chấn, các thiết bị, vệ tinh nhân tạo mặt đất của một số nước để có thể kiểm tra hoạt động của các nước khác ngay trên lãnh thổ của mình. Ví dụ cho thực tiễn điển hình về các phương tiện kỹ thuật này là các phương tiện kỹ thuật quốc gia kiểm soát việc thực hiện Hiệp ước năm 1963 về cấm thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển, trong vũ trụ và dưới nước; công việc kiểm tra tuân thủ Hiệp ước Xô - Mỹ năm 1972 về hạn chế hệ thống phòng thù tên lừa được thực hiện với việc sử dụng hệ thống vệ tinh nhân tạo mặt đất.

Một số điều ước quốc tế (ví dụ, Hiệp ước Xô - Mỹ năm 1987 về huỷ bỏ tên lửa tẫm trung và tầm ngắn) đã quy định, cấm sử dụng các phương tiện kỹ thuật quốc gia để cản trở việc kiểm soát vũ khí, thông qua việc sử dụng các biện pháp ngụy trang trá hình.

Trong quá trình kiểm soát vũ khí, thanh sát tại chỗ trở thành biện pháp được áp dụng nhiều nhất. Nhiệm vụ cùa thanh sát vũ khí là đến những khu vực xác định nào đó để kiểm tra sự tuân thủ cam kết của các quốc gia hữu quan theo điều ước quốc tế về giải trừ quân bị. Công việc thanh sát có thể được thực hiện bằng các nhóm thanh sát viên quốc gia hoặc quốc tế. Thanh sát có thể được tiến hành trên cơ sở qua lại, theo yêu cầu hoặc quyết định của cơ quan và tổ chức quốc tế.

>> Xem thêm:  Nguyên tắc tối huệ quốc (viết tắt theo tiếng Anh là MFN) là gì ? Phân tích nguyên tắc tối huệ quốc ?

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế