1. Có cần giám định tỷ lệ thương tật khi tai nạn giao thông ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Vừa qua gia đình tôi có xảy ra tai nạn giao thông. Tôi muốn làm giấy khám thương tật mà không nhờ tới cơ quan công an có được không ạ? Vì hai bên gia đình muốn tự giải quyết ?

Mong Luật Minh Khuê có thể giải đáp thắc mắc trên giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Trần Thanh

Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ?

Tư vấn pháp luật dân sự về tai nạn giao thông, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012, tại điều 2 có giải thích như sau:

Điều 2. Giải thích từ ngữ

3. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Đối với các vụ tai nạn giao thông có người bị thương, thì bắt buộc phải giám định tỷ lệ thương tật để xác định mức độ tổn hại sức khỏe của nạn nhân;. Và chỉ cơ quan công an mới là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định giám định thương tích, mặt khác chỉ kết luận này mới có giá trị pháp lý.

Việc giám định tỷ lệ thương tật nhằm để xác định trách nhiệm bồi thường cũng như trách nhiệm hình sự của người gây tai nạn đối với người bị hại.

Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng."

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại, căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm:

"1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Như vậy, việc giám định thương tật bắt buộc phải thông qua cơ quan công an. Trường hợp người bị hại có kết quả giám định thương tật đủ hoặc trên 61%, cơ quan công an sẽ tiến hành khởi tố vụ án. Còn tỷ lệ thương tật của người bị hại không đủ 61%, cơ quan công an sẽ làm trọng tài để hai bên hòa giải, bồi thường. Trường hợp bồi thường không thỏa đáng, người bị hại có quyền khởi kiện ra tòa án dân sự.

Trường hợp của bạn nếu hai bên muốn tự giải quyết mà không thông qua cơ quan công an thì chúng tôi nghĩ hai bên có thể cùng đến cơ sở y tế để kiểm tra sức khỏe cho người bị tai nạn cũng như nắm được các khoản chi viện phí để có được sự bồi thường và giải quyết thỏa đáng giữa hai bên.

>> Xem thêm: Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông được xác định dựa trên những tiêu chí, căn cứ pháp luật nào?

>> Xem thêm:  Trưng cầu giám định là gì ? Quy định về trưng cầu giám định lĩnh vực hình sự

2. Bồi thường thiệt hại khi không lập biên bản tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư. Cho em hỏi em đi xe máy tông vào người đi bộ đang qua đường trong khu vực đường nội bộ sân bay. Sự việc xảy ra em đã đưa bệnh nhân đi viện khám chiếu chụp và bác sĩ chuẩn đoán chỉ xây xát nhẹ và gẫy 1 cái răng. Em đã thanh toán tiền khám chữa bệnh và đã đưa bệnh nhân 2 triệu để bồi thường. Người này đã nhận.

Một tháng sau người này gọi bảo đòi thêm tiền nhưng em không đồng ý và người này đòi kiện em ra tòa. Cho em hỏi nếu người này mang đơn kiện thì em có phải bồi thường không và có đủ cơ sở phát lý để kiện không? Trong khi sự việc không báo công an, không có biên bản tai nạn đo đạc hiện trường và giám định pháp y mà chỉ giải quyết giữa hai bên khi sự việc xảy ra ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

- Đạt Lê -

Trả lời:

Khi người bị tai nạn khởi kiện ra tòa yêu cầu bồi thường, họ cần phải chứng minh được hai yếu tố: Thứ nhất là có hành vi vi phạm xảy ra và thứ hai là có thiệt hại thực tế.

Theo như thông tin bạn cung cấp, trong trường hợp đó không khai báo công an, không có biên bản tai nạn đo đạc hiện trường, bạn đã đưa bệnh nhân đi viện ngay nên cũng không còn nguyên hiện trường và việc khám chữa bệnh cũng không có giám định pháp y. Do đó rất khó chứng minh có hành vi vi phạm xảy ra.

Còn về vấn đề thiệt hại thực tế xảy ra, họ cần đưa ra các tài liệu làm căn cứ chứng minh mức thiệt hại như các hóa đơn tiền viện phí, tiền thuốc, thang bảng lương, ... Tuy nhiên ở đây bạn đã đứng ra thanh toán tiền viện phí và có đưa tiền bồi thường rồi. Nên nếu như tòa án thụ lý đơn khởi kiện của người kia thì sẽ xem xét các yếu tố theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015 để xem bạn có phải bồi thường thêm hay không.

Trước đó, hai bên có thể thỏa thận với nhau lại về mức bồi thường. Nếu không thỏa thuận được có thể giải quyết như đã phân tích trên.

Nếu còn vướng mắc Hãy gọi ngay: 1900.6162(bấm máy lẻ lĩnh vực dân sự, giao thông) đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe, hướng dẫn và giải đáp mọi vướng mắc của bạn.

>> Xem thêm:  Quy định mới về tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản ?

3. Gây tai nạn giao thông bị truy tố trách nhiệm hình sự không ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Tôi bị tai nạn trên đường đi làm. Hai xe va chạm vào nhau và cùng một lỗi là lấn chiếm lòng đường. Khi xảy ra va chạm, người kia ngã xuống bất tỉnh. Trong thời gian đó, bên công an giao thông chuyển vụ này qua cho bên cơ quan điều tra hình sự. Nay người đó đã tỉnh lại. Vậy tôi có bị truy tố không? Xin cảm ơn Luật sư!
Người gửi: P.T.M Phương

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông, áp dụng trong trường hợp của bạn, tùy thuộc vào tỷ lệ thương tật của người kia và thiệt hại về tài sản cũng như căn cứ vào mức độ lỗi của từng người thì mới khẳng định được bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.

Nếu còn vướng mắc Hãy gọi ngay: 1900.6162(bấm máy lẻ lĩnh vực dân sự, giao thông) đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe, hướng dẫn và giải đáp mọi vướng mắc của bạn.

>> Xem thêm: Gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người hình phạt như thế nào?

>> Xem thêm:  Cố ý gây thương tích là gì ? Quy định về tội cố ý gây thương tích theo luật hình sự

4. Gây tai nạn giao thông khi không có lỗi ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Sáng sớm ngày 22/12/2018 anh tôi đang lái ô tô tải nhỏ, bất chợt có 1 cụ già lao qua đường, anh tôi không kịp xử lý và đã đâm vào cụ.

Khi gọi và chặn xe để cho cụ đi cấp cứu không được, người dân xung quanh thúc giục anh tôi chở cụ đi bằng xe gây tai nạn trong khi không chụp ảnh hay đánh dấu lại hiện trường. Cụ bị chấn thương sọ não nằm viện 5 ngày. Bác sĩ nói tình hình sức khoẻ cụ tiến triển bình thường có khả năng phục hồi. Nhưng không hiểu sao các con cụ xin cho cụ về, được 2 hôm thì cụ mất. Gia đình tôi đã chung tay làm ma chay cho cụ 20 triệu, xong việc đã đưa tiếp 20 triệu còn lại định để lên công an rồi đưa tiếp. Các con cụ nói chi phí đến xong đám ma là 80 triệu yêu cầu nhà tôi chịu hết, ngoài ra còn tiền đền bù lên đến 200 triệu. Cụ năm nay đã 75 tuổi theo hàng xóm nói cụ mắt mờ tai còn bị lãng, khi xảy ra va chạm cụ đã đi ra khỏi phần đường dành cho người đi bộ, vì không giữ lại hiện trường nên xe nhà tôi bị quy vào lỗi vi phạm tốc độ vì dựng lại hiện trường xe cách cụ 11,9m. Nhưng có rất nhiều người chứng kiến rằng xe chỉ cách cụ 3-4m. Trong thời gian cụ nằm viện cũng như ma chay nhà tôi luôn có người túc trực chăm sóc và làm mọi việc.

Luật sư cho tôi hỏi anh tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không và mức độ như thế nào? Mức đền bù là bao nhiêu thì thoả đáng. Vì theo những người chứng kiến xe nhà tôi không vi phạm lỗi nào cả ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ Công ty Luật Minh khuê!

Người gửi: Diệp Anh

>> Tư vấn pháp luật giao thông đường bộ trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông và Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Trong trường hợp này, nếu qua hoạt động điều tra của cơ quan công an xác định anh bạn không vi phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ: đi đúng làn đường quy định, đúng tốc độ, không tránh, vượt trái phép... và người có lỗi là cụ thì anh bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự và không phải bồi thường thiệt hại. Ngược lại, nếu cơ quan điều tra xác định anh bạn là người có lỗi trong vụ tai nạn thì anh bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cơ quan tố tụng sẽ dựa vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đưa ra quyết định về hình phạt cho anh bạn. Anh bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

>> Xem thêm: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe gây tai nạn giao thông bồi thường như thế nào?

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc Hãy gọi ngay: 1900.6162(bấm máy lẻ lĩnh vực dân sự, giao thông) đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe, hướng dẫn và giải đáp mọi vướng mắc của bạn.

5. sử dụng lòng đường hè phố khác mục đích có bị xử phạt không

Thời gian gần đây, trên đường phố nơi tôi sinh sống, mỗi buổi sáng, người dân tụ tập trên hè phố rất đông để họp chợ, mua bán hàng. Thậm chí một số người còn đặt biển hiệu, bàn ghế trên hè phố gây cản trở cho người đi bộ. Khi được tổ trưởng tổ dân phố nhắc nhở thì những người dân đó phản hồi rằng: hè phố là nơi thích hợp để buôn bán; nếu như việc buôn bán không lấn xuống lòng đường, không ảnh hưởng đến xe cộ đi lại thì không phải là vi phạm pháp luật. Xin hỏi ý kiến này có chính xác không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 35, 36, Luật Giao thông đường bộ thì lòng đường và hè phố chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông. Một số hoạt động khác như hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội chỉ được tổ chức trên đường phố khi có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.

Mọi hành vi sử dụng hè phố trái phép sau đây đều bị pháp luật nghiêm cấm:

  • Họp chợ, mua, bán hàng hóa trên đường bộ;
  • Tụ tập đông người trái phép trên đường bộ;
  • Thả rông súc vật trên đường bộ;
  • Phơi thóc, lúa, rơm rạ, nông sản hoặc để vật khác trên đường bộ;
  • Đặt biển quảng cáo trên đất của đường bộ;
  • Lắp đặt biển hiệu, biển quảng cáo hoặc thiết bị khác làm giảm sự chú ý, gây nhầm lẫn nội dung biển báo hiệu hoặc gây cản trở người tham gia giao thông;
  • Che khuất biển báo hiệu, đèn tín hiệu giao thông;
  • Sử dụng bàn trượt, pa-tanh, các thiết bị tương tự trên phần đường xe chạy;
  • Đổ rác hoặc phế thải không đúng nơi quy định;
  • Xây, đặt bục, bệ trái phép trên đường.
  • Hành vi khác gây cản trở giao thông.

Như vậy, ý kiến của người dân nói trên là không chính xác. Hè phố là một bộ phận của đường bộ, có ý nghĩa lớn đối với việc lưu thông và bảo đảm an toàn giao thông đường bộ. Hành vi tụ tập đông người, họp chợ, mua bán hàng hóa, đặt biển quảng cáo gây cản trở giao thông là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý vi phạm hành chính.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đi ngược chiều bị phạt bao nhiêu tiền theo quy định của luật giao thông đường bộ ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: . Luật Giao thông đường bộ nghiêm cấm các hành vi nào ?

Trả lời:

 theo Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Phá hoại đường, cầu, hầm, bến phà đường bộ, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, gương cầu, dải phân cách, hệ thống thoát nước và các công trình, thiết bị khác thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

2. Đào, khoan, xẻ đường trái phép; đặt, để chướng ngại vật trái phép trên đường; đặt, rải vật nhọn, đổ chất gây trơn trên đường; để trái phép vật liệu, phế thải, thải rác ra đường; mở đường, đấu nối trái phép vào đường chính; lấn, chiếm hoặc sử dụng trái phép đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ; tự ý tháo mở nắp cống, tháo dỡ, di chuyển trái phép hoặc làm sai lệch công trình đường bộ.

3. Sử dụng lòng đường, lề đường, hè phố trái phép.

4. Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ.

5. Thay đổi tổng thành, linh kiện, phụ kiện xe cơ giới để tạm thời đạt tiêu chuẩn kỹ thuật của xe khi đi kiểm định.

6. Đua xe, cổ vũ đua xe, tổ chức đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng.

7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.

10. Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ.

11. Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu.

12. Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi trong thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ, bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị và khu đông dân cư, trừ các xe được quyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định của Luật này.

13. Lắp đặt, sử dụng còi, đèn không đúng thiết kế của nhà sản xuất đối với từng loại xe cơ giới; sử dụng thiết bị âm thanh gây mất trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng.

14. Vận chuyển hàng cấm lưu thông, vận chuyển trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển hàng nguy hiểm, động vật hoang dã.

15. Đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn; chuyển tải, xuống khách hoặc các hành vi khác nhằm trốn tránh phát hiện xe chở quá tải, quá số người quy định.

16. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô khi không đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh theo quy định.

17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

18. Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông.

19. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn.

20. Lợi dụng việc xảy ra tai nạn giao thông để hành hung, đe dọa, xúi giục, gây sức ép, làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn giao thông.

21. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp của bản thân hoặc người khác để vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

22. Sản xuất, sử dụng trái phép hoặc mua, bán biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng.

 

Câu hỏi: Khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, người lái xe phải mang theo các loại giấy tờ gì?

Trả lời:

theo điều 58 luật giao thông đường bộ

1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái.

2. Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:

a) Đăng ký xe;

b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;

c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;

d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Câu hỏi: Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ, trường hợp nào các xe được phép vượt vào bên phải?

Trả lời:

điều 14 khoản 4 luật giao thông đường bộ:

4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.