1. Giới thiệu tác giả

Giáo trình Logic học - Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Lê Thanh Tập biên soạn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh

Giáo trình Logic học - Trường Đại học Luật Hà Nội

Giáo trình Logic học - Trường Đại học Luật Hà Nội

Tác giả: TS. Lê Thanh Tập biên soạn

Nhà xuất bản Công an nhân dân

 

3. Tổng quan nội dung sách

Logic học là khoa học nghiên cứu về các hình thức và quy luật của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn thế giới khách quan. Môn khoa học này ra đời vào khoảng thế kỷ thứ V - VI trước Công nguyên. Với hơn hai ngàn năm lịch sử, logic học ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò và ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của tư duy nhân loại, quan đó tác động đến sự phát triển của khoa học xã hội.

Logic học cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản để hiểu biết về tư duy một cách hệ thống, sâu sắc; biết vận dụng một cách tự giác sự hiểu biết đó để điều chỉnh và rèn luyện kĩ năng tư duy. Thêm vào đó, kiến thức logic học có tính chất gợi mở cách tiếp cận, nhận thức vấn đề và xu hướng phát triển tư tưởng. Học tập, nghiên cứu logic học góp phần hình thành các phẩm chất tư duy hệ thống, đúng đắn, chặt chẽ và chính xác, tránh được những lỗi logic.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tập, nghiên cứu học logic, nhiều trường đại học, cao đẳng trong nước và trên thế giới đã đưa môn học này vào chương trình giảng dạy; đặc biệt, trong các trường sư phạm, luật, báo chí, logic học là môn có tính chất bắt buộc.

Đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập của giảng viên, sinh viên nhà trường, Trường đại học luật Hà Nội tổ chức biên soạn giáo trình logic. Giáo trình Logic học được biên soạn lần này có sự kế thừa, tiếp thu các giáo trình đã xuất bản trước đây đồng thời được cập nhật, bổ sung những tri thức mới cho phù hợp với chuyên ngành đào tạo luật học hiện nay.

Giáo trình Logic học - Trường Đại học luật Hà Nội được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương I: Đối tượng và ý nghĩa của logic học
1. Thuật ngữ "logic" và "logic học"
2. Tư duy và tư duy logic
3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu logic học
4. Khái lược lịch sử và ý nghĩa của logic học
Chương II: Khái niệm
1. Bản chất và hình thức biểu đạt của khái niệm
2. Kết cấu logic của khái niệm
3. Quan hệ giữa các khái niệm
4. Các thao tác logic trên khái niệm
Chương III: Phán đoán
1. Bản chất và hình thức biểu đạt của phán đoán
2. Các loại phán đoán
Chương IV: Quy luật cơ bản của tư duy logic
1. Bản chất của quy luật tư duy
2. Các quy luật cơ bản của tư duy logic
Chương V: Suy luận
1. Bản chất của suy luận
2. Các hình thức suy luận
Chương VI: Giả thuyết, chứng minh, bác bỏ
1. Giả thuyết
2. Chứng minh
3. Bác bỏ
 

4. Đánh giá bạn đọc

Giáo trình Logic học được biên soạn giới thiệu tới người học những nội dung cơ bản của môn học Logic học, gồm: đối tượng nghiên cứu; các khái niệm; phán đoán; quy luật cơ bản của tư duy logic; suy luận; giả thuyết, chứng minh, bác bỏ.

Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ học tập và giảng dạy bộ môn Logic học của học viên, sinh viên và giảng viên trường đại học luật Hà Nội, đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Logic học - Trường Đại học Luật Hà Nội".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung chia sẻ trong cuốn giáo trình về Logic học và Tư duy để bạn đọc tham khảo:

Logic học
Logic học, theo truyền thống vẫn được hiểu là nghiên cứu như một nhánh của triết học. Từ giữa thế kỷ 19, logic học đã được nghiên cứu trong toán học và luật học; những năm cuối của thế kỷ 20 logic học được áp dụng vào phát triển trí tuệ nhân tạo và thửngôn ngữ dùng cho máy tính. Mặc dù tầm bao quát của logic học ngày càng mở rộng đối tượng, nhiệm vụ của nó, thì cơ bản đã được xác định. Theo Lênin, logic học là khoa học nghiên cứu về sự phát triển của tư duy trong tính tất yếu của nó. Tính tất yếu của tư duy là mối liên hệ bản chất, phổ biến giữa các tư tưởng trong quá trình tư duy làm nền tảng cho các thao tác logic; bảo đảm tính tất yếu là điều kiện cần để quá trình tư duy phù hợp với khách thể phản ánh.
Với cách định nghĩa đó, Lênin đã chỉ rõ nội dung, nhiệm vụ cơ bản của logic học.
Tư duy là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học như: tâm lý học, xã hội học, giờ khiển học, sinh lý học thần kinh cao cấp trong đó, mỗi ngành nghiên cứu một khía cạnh của tư duy.
Chẳng hạn, tâm lý học nghiên cứu tư duy như hiện tượng tâm lý; điều khiển họ không chịu kết cấu tư duy để mô phỏng theo, tạo ra trí tuệ nhân tạo, sinh lý học thần kinh cao cấp nhưng chỉ cơ chế hoạt động của hệ thần kinh con người với tư cách là nền tảng vật chất của quá trình tư duy. Logic học nghiên cứu về tư duy với tư cách là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, theo Heghen, đó là quá trình tư duy "tự phản tư" về mình. Khái quát đối tượng và mục đích nghiên cứu có thể khẳng định nghĩa:
Logic học là môn khoa học nghiên cứu về các hình thức và quy luật tư duy nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực khách quan.
Tư duy
Quá trình nhận thức gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Tư duy là giai đoạn nhận thức lý tính còn được gọi là tư duy chiều tượng, dựa vào những tài liệu thu nhận được ở giai đoạn nhận thức cảm tính, trong đầu óc con người nãy sinh các hoạt động: Phân tích, so sánh, tổng hợp, chiều tượng hóa, khái quát hóa giúp cho anh những thuộc tính chung, bản chất của đối tượng phản ánh hình thành nên khái niệm. Sự liên kết giữa các khái niệm để khẳng định hoặc phủ định vấn đề nào đó của đối tượng nhận thức là phán đoán. Từ những phán đoán đã có rút ra phán đoán mới là sinh vật. Khái niệm, phán đoán, suy luận là các hình thức tư duy. Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo về thế giới.
Tư duy là sự phản ánh, xét về bản chất, đó là "hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan". Tư duy là phi vật chất nhưng nó phụ thuộc vào bộ não, cái vật chất chứa đựng nó. Ph. Ang ghen nói: "Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc người và bản thân con người".
Tư duy, xét về bản tính, là một quá trình sáng tạo. Nói đến tính sáng tạo của tư duy là nói đến sự hình thành tri thức mới về các mối liên hệ và quan hệ, về tính quy luật khách quan chi phối sự phát triển của các sự kiện và quá trình lịch sử, về bản chất của các khách thể vi mô, cũng như về diễn biến của hiện thực. Trên con đường nhận thức chân lý, chủ thể tư duy không chỉ biết đặt ra các vấn đề mới, mà còn giải quyết chúng bằng những phương pháp thích hợp. Đồng thời, đó cũng là quá trình chủ thể tư duy huy động một cách sáng tạo vốn tri thức phong phú đã có, bao gồm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp; huy động không chỉ tri thức lý luận chung, mà cả sự am hiểu cần thiết, cụ thể về những lĩnh vực "có vấn đề". Thiếu vốn tri thức phong phú của cuộc sống sẽ không có tư duy sáng tạo. Ngoài ra, trong sự sáng tạo của tư duy ở trình độ lý luận khoa học cao còn có sự tham gia tích cực của tưởng tượng và trực giác. Các tư tưởng, quan niệm, lý thuyết khoa học... do tư duy sáng tạo ra cũng như bản thân tư duy có sự biến đổi, phát triển là do thực tiễn lịch sử - xã hội quyết định. Điều này không loại bỏ tính độc lập tương đối của tư duy. Tư duy có lôgíc phát triển nội tại riêng, chịu sự chi phối của các quy luật (quy tắc, nguyên tắc) riêng. Trong Từ điển triết học (M.M.Rôđentan chủ biên) có viết: "Tư duy - sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, v.v.. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật thực tại".
Tư duy có vai trò rất quan trọng trong việc nhận thức thế giới. Khi tư duy của chúng ta xem xét, nhận thức về giới tự nhiên, về lịch sử xã hội loài người hay về hoạt động tinh thần của chúng ta, chính tư duy đã đem lại cho chúng ta một sự hiểu biết về những mối liên hệ phong phú, đa dạng, phức tạp, về những sự vận động và biến đổi, về sự phát sinh và tiêu vong của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Tư duy trừu tượng hướng vào việc tìm ra chân lý, nắm bắt những mối liên hệ khách quan, có tính bản chất, phát hiện ra tính quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Nói về tầm quan trọng của tư duy trừu tượng trong việc phát hiện chân lý, V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối. Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở rộng ra, khi thì thu hẹp lại, tuỳ theo sự tăng tiến của tri thức".
Nhờ có tư duy trừu tượng mà nhận thức của con người đi từ sự hiểu biết có tính chất hiện tượng đến sự hiểu biết về bản chất, từ ngẫu nhiên bề ngoài đến quan hệ có tính tất nhiên, tính quy luật. Tư duy cho chúng ta nhận thức các sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể, trong thể thống nhất, chứ không phải là sự hiểu biết riêng lẻ, tách rời của các yếu tố, các bộ phận của sự vật, hiện tượng. Tư duy trừu tượng là quá trình phản ánh thế giới một cách gián tiếp, khái quát nhờ ngôn ngữ.