1. Giới thiệu tác giả
Giáo trình Luật biển quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Nguyễn Thị Kim Ngân & TS. Nguyễn Toàn Thắng đồng chủ biên cùng với sự tham gia biên soạn của tập thể tác giả là giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật biển quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Kim Ngân & TS. Nguyễn Toàn Thắng
Nhà xuất bản Tư pháp
3. Tổng quan nội dung sách
Từ thời xa xưa biển và đại dương đã được biết đến như một môi trường thiên nhiên lý tưởng cho những nền văn minh vĩ đại, như kho tài nguyên thiên nhiên phố xá đắp ứng cho những nhu cầu vật chất xã, hội không gia tăng của con người. Với những nguồn lợi to lớn do biển và đại dương mang lại, các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có biển, đều muốn khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của mình trên các vùng biển. Tuy nhiên, khác với đất liền, biển và đại dương là môi trường thống nhất của không gian mở, không có sự phân chia độc lập hoàn toàn giữa các bộ phận với nhau. Vì vậy, việc khai thác sử dụng biển cần đặt dưới sự điều chỉnh bởi tổng thể những nguyên tắc và quy phạm thích hợp nhằm hài hòa lợi ích giữa quốc gia ven biển, các quốc gia khác và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Luật Biển quốc tế hình thành từ chính những yêu cầu đó của thực tiễn quan hệ quốc tế.
Con người biết và quan tâm đến biển như một nguồn cung cấp thực phẩm, đặc biệt là việc khai thác, sử dụng cột nước bề mặt biển như một môi trường phục vụ cho hàng hải, sự truyền đạo và các cuộc viễn chinh tới các vùng xa xôi. Buổi sơ khai, do quan niệm tài nguyên biển cả là vô tận, cho nên không có các cuộc đấu tranh giành quyền lực trên biển. Thực tế đó tồn tại cho đến thế kỉ XV, khi biển cả từ một môi trướng, phương tiện trở thành đối tượng chinh phục của các quốc gia muốn mở rộng quyền lực của mình ra biển. Điều này càng thêm rõ nét khi các quốc gia ý thức được rằng tài nguyên biển không phải là vô tận.
Khi thương mại phát triển, con người cảm nhận được sự cần thiết đặt biển vào một trật tự pháp lý nhất định. Các quyền lợi của chính các thương nhân đã đóng góp nhiều cho việc hình thành Luật biển quốc tế.
Cùng với sự ra đời của nhà nước, các cuộc đấu tranh giữa các nhà nước giành quyền thống trị đối với các vùng đất liên tục nổ ra và đến khi xã hội loài người phát triển tới mức có thể tiến hành khai thác các nguồn lợi từ đại dương, thì các cuộc đẩu tranh giành quyền kiểm soát chúng cũng bắt đầu.
Với mong muốn đem đến những tri thức về Luật Biển quốc tế, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, Trường Đại học Luật Hà Nội đã tổ chức biên soạn cuốn “Giáo trình Luật Biển quốc tế“. Giáo trình Luật Biển quốc tế đề cập những vấn đề cơ bản vì cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển, nội dung hợp tác giữa quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng biển cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh. Với những nội dung đó hy vọng cuốn giáo trình Luật Biển quốc tế sẽ nhận được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc.
Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc như sau:
Chương 1: Lí luận chung về Luật Biển quốc tế
Chương 2: Đường cơ sở trong Luật Biển quốc tế
Chương 3: Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
Chương 4: Các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia
Chương 5: Các vùng biển ngoài phạm vi quyền tài phán của quốc gia
Chương 6: Các vùng biển đặc thù
Chương 7: Phân định biển giữa các quốc gia đối diện hoặc liền kề
Chương 8: Khái quát chung trên các vùng biển
Chương 9: Bảo vệ môi trường biển
Chương 10: Nghiên cứu khoa học biển
Chương 11: Giải quyết các tranh chấp trên biển
4. Đánh giá bạn đọc
Giáo trình Luật biển quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội được biên soạn giới thiệu tới người học, người đọc những nội dung cơ bản của Luật biển quốc tế gồm: Lí luận chung về Luật Biển quốc tế; Đường cơ sở trong Luật Biển quốc tế; Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia; Các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia; Các vùng biển ngoài phạm vi quyền tài phán của quốc gia; Các vùng biển đặc thù; Phân định biển giữa các quốc gia đối diện hoặc liền kề; Khái quát chung trên các vùng biển; Bảo vệ môi trường biển; Nghiên cứu khoa học biển và Giải quyết các tranh chấp trên biển.
Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ học tập và giảng dạy bộ môn Luật biển quốc tế của học viên, sinh viên và giảng viên trường đại học luật Hà Nội, đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về lĩnh vực này.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật Biển quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội".
Luật biển quốc tế bao gồm các nguyên tắc, quy phạm do các quốc gia và các chủ thể khác của Luật biển quốc tế thỏa thuận xây dựng nên hoặc thừa nhận các tập quán quốc tế nhằm thiết lập quy chế pháp lý các vùng biển và các hoạt động sử dụng, khai thác, bảo vệ biển cũng như quan hệ hợp tác, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể. Luật biển quốc tế là một ngành luật độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế, thể hiện bản chất và quá trình phát triển của Luật quốc tế.
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số nội dung về đường cơ sở trong Luật biển quốc tế để bạn đọc tham khảo:
Đường cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa).
Đường cơ sở có vai trò rất quan trọng vì nếu không xác định được đường cơ sở thì cũng không thể xác định được chiều rộng của vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc xác định vị trí của đường cơ sở cũng có thể làm cho các vùng biển khác của quốc gia được mở rộng hoặc thu hẹp.
Công ước luật biển năm 1982 cũng như thực tiễn xác định đường cơ sở của các quốc gia trên thế giới cho thấy có hai phương pháp xác định đường cơ sở chủ yếu: phương pháp đường cơ sở thông thường và phương pháp đường cơ sở thẳng. Căn cứ vào địa hình bờ biển của mình, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng để xác định đường cơ sở của mình.
Do địa hình bờ biển của các quốc gia rất phức tạp và khác nhau, mặt khác, việc xác định đường cơ sở lại do chính quốc gia ven biển tự tiến hành nên để tránh tình trạng việc xác định đường cơ sở có thể làm cho một khu vực lãnh hải trở thành nội thủy hay một vùng biển trở thành lãnh hải, Công ước Luật biển năm 1982 đã có những điều khoản quy định tương đối chỉ tiết về các phương pháp xác định đường cơ sở cho các quốc gia có biển.
Đường cơ sở thẳng
Được xác định theo phương pháp nối liền các điểm thích hợp được lựa chọn tại những điểm ngoài cùng nhất nhô ra biển tại mức nước thủy triều thấp nhất (trung bình nhiều năm). Trước khi được pháp điển hóa thành các điều khoản của các điều ước quốc tế thì nó là phương pháp tập quán phổ biến nhất của tập quán quốc tế. Cụ thể là phán quyết năm 1951 của Tòa án quốc tế trong vụ tranh chấp Anh - Na Uy về ngư trường. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1958 đã pháp điển hóa và đưa nó vào điều 4 khi giải thích về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, cũng như trong điều 7 của Công ước 1982. Theo Công ước 1982 thì đường cơ sở thẳng phải tuân thủ quy định là không đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển nằm bên trong các đường cơ sở này phải có liên quan đến phần đất liền đủ để có thể coi như vùng nằm dưới chế độ nội thủy (điều 7 khoản 7§1). Tuy nhiên, ở đây có một số ngoại lệ khi kẻ một số đường cơ sở thẳng. Cụ thể như sau:
Theo điều 7 khoản 7§5 của Công ước 1982 thì quốc gia ven biển có thể tính đến lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà tầm quan trọng của nó đã được chứng minh rõ ràng thông qua quá trình sử dụng lâu dài.
Với phương pháp này cần lưu ý đến việc lựa chọn các điểm xuất phát, không được chọn các điểm thuộc các bãi nửa nổi nửa chìm (các bãi nổi trên biển có đặc tính nổi khi thủy triều xuống, chìm khi thủy triều lên do địa hình không bằng phẳng hoặc thoải đều), trừ trường hợp ở đó có đèn biển hoặc các thiết bị hoa tiêu khác thường xuyên nhô lên trên mặt nước hay việc vạch đường cơ sở đó đã được thừa nhận chung của quốc tế. Việc này phải bảo đảm không làm cho lãnh hải của quốc gia khác bị tách ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của họ hay biển cả.
Mặc dù ra đời sau so với đường cơ sở thông thường, tuy nhiên cho đến hiện nay, đường cơ sở thẳng lại là phương pháp xác định khá phổ biến của các quốc gia ven biển. Trong số hơn 150 quốc gia ven biển, đã có khoảng 60 nước đã xác định đường cơ sở thẳng dọc theo bờ biển của họ và khoảng 10 quốc gia khác đã ban hành pháp luật cho phép nhưng chưa công bố các tọa độ hoặc biểu đồ đường cơ sở thẳng của họ. Nhìn chung, việc xác định đường cơ sở theo phương pháp đường cơ sở thẳng sẽ giúp các quốc gia ven biển có được một vùng nội thủy rộng hơn so với việc áp dụng đường cơ sở thông thường. Tuy nhiên, chính việc mở rộng đó đã dẫn đến việc các quốc gia lạm dụng những khoảng trống trong cơ chế kiểm soát của UNCLOS 1982 để công bố những đoạn đường cơ sở thẳng chưa thực sự phù hợp với luật pháp quốc tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các quốc gia khác trên biển.
Đường cơ sở thông thường
Là ngấn nước thủy triều thấp nhất (trung bình nhiều năm) dọc theo bờ biển đã được thể hiện trên các hải đồ có tỷ lệ xích lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận. Đối với các đảo san hô hay đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương pháp này cũng được áp dụng. Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh đúng đắn hơn đường bờ biển thực tế của các quốc gia, hạn chế sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ. Hạn chế của nó là khó áp dụng trong thực tế, nhất là đối với các vùng có bờ biển khúc khuỷu.