1. Giới thiệu tác giả

Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) do tập thể tác giả là giảng viên Trường Đại học Luật TP.HCM biên soạn.

Chủ biên: TS. Phạm Đức Trọng

Tập thể tác giả:

TS. Nguyễn Văn Tiến

TS. Lê Vĩnh Châu

ThS. Trần Thị Hương

ThS. Lê Thị Mận

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam -Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh)

Chủ biên: TS. Phạm Đức Trọng

Nhà xuất bản Hồng Đức

 

3. Tổng quan nội dung sách

Điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở cho những ứng xử chuẩn mực, nền tảng để chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình thụ hưởng hạnh phúc. Với các chế định được dự liệu, Luật Hôn nhân và gia đình đồng thời xác định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, cũng cố chế độ hôn nhân và gia đình.

Trên cở sở Luật Hôn nhân và gia đình cùng nguồn của Luật, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam do nhóm tác giả biên soạn tập trung phân tích và lý giải ở góc độ khoa học những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật hôn nhân gia đình đồng thời đưa ra quan điểm, đánh giá việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Tìm hiểu Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, bạn đọc sẽ nhận thức được các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình; quan hệ pháp Luật Hôn nhân và gia đình; chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam từ năm 1945 đến nay; Các cơ chế pháp lý về kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con; nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình; chấm dứt hôn nhân; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được trình bày một cách có hệ thống và logic trong giáo trình là cơ sở giúp người đọc áp dụng pháp luật để giải quyết các tình huống thực tế.

Cuốn sách được hệ thống với cấu trúc chương mục như sau:

Chương I. Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin vè ác hình thái hôn nhân trong lịch sử

2. Khái niệm và các đặc điểm của hôn nhân

3. Khái niệm và các chức năng cơ bản của gia đình

4. Khái niệm Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

5. Nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình

Chương II. Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

2. Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luạt hôn nhân và gia đình

3. Thực hiện, bảo vệ quyền và nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình

4. Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt, phục hồi quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Chương III. Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam từ năm 1945 đến nay

1. Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam từ tháng 8.1945 đến trước ngày 13.01.1960

2. Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam từ ngày 13.1.1960 đến trước ngày 03.01.1987

3. Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam từ ngày 03.01.1987 đến trước ngày 01.01.2001

4. Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam từ ngày 01.01.2001 đến tước ngày 01.01.2015

5. Chế độ hôn nhân và gia đình VIệt Nam từ ngày 01.01.2015 đến nay

Chương IV. Kết hôn và kết hôn trái pháp luật

1. Kết hôn

2. Kết hôn trái pháp luật

3. Không công nhận quan hệ vợ chồng

Chương V. Quan hệ giữa vợ và chồng

1. Khái niệm

2. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân

3. Chế độ tài sản của vợ chồng

4. Đại diện giữa vợ và chồng

Chương VI. Quan hệ giữa cha mẹ và con - Quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình

1. Căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con

2. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con

3. Quan hệ pháp luật giữa các thành viên khác trong gia đình

Chương VII. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình

1. Khái niệm cấp dưỡng và phân loại nghĩa vụ cấp dưỡng

2. Mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

3. Các trường hợp cấp dưỡng

4. Thay đổi, tạm ngưng nghĩa vụ cấp dưỡng

Chương VIII. Chấm dứt hôn nhân

1. Chấm dứt hôn nhân do một trong hai bên vợ chồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết

2. Chấm dứt hôn nhân trong trường hợp ly hôn

Chương IX. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Lý luận chung về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

2. Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

3. Quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài

 

4. Đánh giá bạn đọc

Trong cuốn sách, các tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản của môn học Luật Hôn nhân và gia đình, gồm: khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình; quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình; kết hôn; chế độ tài sản của vợ chồng; quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên gia đình; chấm dứt hôn nhân; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ...

Cuốn sách là học liệu quan trọng và cần thiết, phục vụ hoạt động học tập và giảng dạy hiệu quả Bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho những bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam để trang bị cho mình những kiến thức pháp lý căn bản nhất áp dụng trên thực tế.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh)".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số vấn đề pháp lý cơ bản về kết hôn, điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn để bạn đọc tham khảo:

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Theo đó, nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, thể hiện ý chí của nam, nữ muốn kết hôn với nhau; thứ hai, việc kết hôn phải tuân theo điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định mới được thừa nhận.

Điều kiện kết hôn

Để hướng tới xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ, pháp luật quy định  nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:

Phải đủ tuổi kết hôn

Luật hôn nhân và gia đình quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn.

Việc pháp luật quy định độ tuổi kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, bảo đảm sự phát triển giống nòi, bảo đảm cho các bên nam, nữ có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng chăm lo cuộc sống gia đình. Ngoài ra, việc quy định độ tuổi kết hôn còn khẳng định chính sách pháp luật của Nhà nước ta không phân biệt dân tộc kinh hay dân tộc thiểu số, nhằm tránh việc tảo hôn, loại bỏ tập quán lấy vợ, chồng sớm ở đồng bào các dân tộc thiểu số, đảm bảo sự trưởng thành về thể chất và trí tuệ cho nam, nữ để họ thực hiện tốt chức năng của mình đối với gia đình và xã hội.

Cơ sở để xác định tuổi kết hôn là Giấy khai sinh được cơ quan có thẩm quyền về hộ tịch cấp.

Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định

Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Tự nguyện kết hôn là việc hai bên nam nữ thể hiện sự đồng ý trở thành vợ chồng của nhau mà không bị tác động của bên kia hay của bất kỳ người nào khác. Đây là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm cho hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, cho phép nam, nữ đến độ tuổi kết hôn có quyền bày tỏ ý chí của mình trong việc chọn người "bạn đời", làm cơ sở cho cuộc hôn nhân của họ được hạnh phúc, bền vững.

Không bị mất năng lực hành vi dân sự

 Theo quy định của Bộ luật dân sự, khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Người mất năng lực hành vi dân sự là người mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Vì vậy, họ không được kết hôn do không thể hiện được sự tự nguyện kết hôn, không nhận thức được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình.

Bên cạnh đó, theo quy định Bộ luật dân sự thì mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Trong khi đó, quyền kết hôn, ly hôn là quyền nhân thân của mỗi người không thể do người đại diện thực hiện. Do đó, để được kết hôn, một điều kiện bắt buộc là nam, nữ phải không bị mất năng lực hành vi dân sự.

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp:

Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Người cùng giới tính là nam với nam hoặc nữ với nữ. Việc kết hôn giữa những người cùng giới tính không bảo đảm chức năng của hôn nhân là duy trì nòi giống. Do vậy, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Nhằm tránh có cách hiểu và can thiệp hành chính vào cuộc sống giữa những người cùng giới tính, đồng thời thể hiện quan điểm hôn nhân phải là sự liên kết giữa hai người khác giới tính, bên cạnh việc quy định các điều kiện kết hôn như trên, pháp luật quy định Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Đăng ký kết hôn

Đăng ký kết hôn là thủ tục do Nhà nước quy định nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp, là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Pháp luật quy định sự kiện kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch. Đăng ký kết hôn là biện pháp để Nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch thì không có giá trị pháp lý.

Trường hợp vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Pháp luật quy định, đối với kết hôn trong nước không có yếu tố nước ngoài, việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn.

Cơ quan đại diện thực hiện đăng ký kết hôn cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, nếu việc đăng ký đó không trái pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Thông tin thêm:

  • Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh có giá bìa là 100.000 đồng.
  • Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh xuất bản năm 2016.