1. Giới thiệu tác giả

Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ - Trường Đại học Luật Hà Nội do PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến làm chủ biên.

Tập thể tác giả:

PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến

TS. Trần Lê Hồng

TS. Vũ Thị Phương Lan

TS. Nguyễn Như Quỳnh

TS. Vương Thanh Thúy

PGS.TS. Phạm Văn Tuyết

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

 

Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ - Trường Đại học Luật Hà Nội

Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ - Trường Đại học Luật Hà Nội

Tác giả: PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến (chủ biên)

Nhà xuất bản Công an nhân dân

 

3. Tổng quan nội dung sách

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng đóng vai trò quan trọng, được xem như một công cụ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển văn hóa, khoa học, công nghệ nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Vì vậy, việc giảng dạy về sở hữu trí tuệ trên thế giới đã trở thành một nhu cầu đào tạo quan trọng, có định hướng, dựa trên sự nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động đào tạo, phổ biến, nâng cao kiến thức của xã hội đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ. Ở Việt Nam, không chỉ các cơ sở đào tạo luật mà nhiều trường đại học thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn, kĩ thuật, kinh tế, y dược, nông lâm nghiệp… đã đưa nội dung pháp luật về sở hữu trí tuệ vào chương trình giảng dạy.

Để phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và học tập các môn học về sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Hà Nội đã biên soạn giáo trình luật sở hữu trí tuệ. Giáo trình luật sở hữu trí tuệ của Trường Đại học Luật Hà Nội cung cấp cho người đọc những kiến thức lý luận lên tàu về quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng như quy định của các điều ước quốc tế và hiệp định thương mại tự do có nội dung điều chỉnh về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên.

Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực rộng mang tính đa ngành liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau như: hoạt động sáng tạo, khai thác, sử dụng, quản lý, chuyển giao, bảo vệ tài sản trí tuệ. Luật sở hữu trí tuệ cũng điều chỉnh nhiều khía cạnh pháp lý khác nhau liên quan đến các quan hệ dân sự, thương mại, hành chính, quốc tế, hình sự. Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, tuy nhiên, do lĩnh vực sở hữu trí tuệ có nội dung phong phú và khá phức tạp, dung lượng của giáo trình lại bị giới hạn trong khuôn khổ của một giáo trình đại học lên giáo trình khó tránh khỏi những hạn chế nhất định.

Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tuệ

  1. Khái quát về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ
  2. Khái quát về pháp luật sở hữu trí tuệ

Chương 2: Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

  1. Quyền tác giả
  2. Quyền liên quan đến quyền tác giả
  3. Xác lập, đăng ký, quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
  4. Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
  5. Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan theo các điều ước quốc tế

Chương 3: Quyền sở hữu công nghiệp

  1. Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
  2. Đối tượng sở hữu công nghiệp và điều kiện bảo hộ
  3. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp, văn bằng và thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
  4. Chủ thể, nội dung và giới hạn quyền sở hữu công nghiệp
  5. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và cạnh tranh không lành mạnh
  6. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và các điều ước quốc tế

Chương 4: Quyền đối với giống cây trồng

  1. Khái niệm, đặc điểm của quyền đối với giống cây trồng
  2. Điều kiện bảo hộ giống cây trồng
  3. Xác lập quyền đối với giống cây trồng
  4. Các quyền được bảo hộ đối với giống cây trồng và thời gian bảo hộ
  5. Xâm phạm quyền, hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng
  6. Công ước UPOV Về bảo hộ quyền đối với giống cây trồng

Chương 5: Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ

  1. Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
  2. Chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan
  3. Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
  4. Chuyển giao quyền đối với giống cây trồng

Chương 6: Thực thi quyền sở hữu trí tuệ

  1. Khái quát chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ
  2. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
  3. Giám định về sử trí tuệ
  4. Pháp luật quốc tế về thực thi quyền sở hữu trí tuệ

 

4. Đánh giá bạn đọc

Giáo trinh Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam  - Trường đại học Luật Hà Nội được biên soạn, giới thiệu tới người học những vấn đề cơ bản về sở hữu trí tuệ, gồm: tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tuệ; quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng; chuyển giao và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ học tập và giảng dạy bộ môn Luật sở hữu trí tuệ của học viên, sinh viên và giảng viên trường đại học luật Hà Nội, đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về lĩnh vực này.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ - Trường Đại học Luật Hà Nội".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số quy định về đăng ký nhãn hiệu theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2005 để bạn đọc tham khảo:

Điều 72. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.

Điều 73. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:

1. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

2. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

3. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

4. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

5. Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.

Điều 74. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

1. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;

b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;

c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;

d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;

i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.