1. Giới thiệu tác giả
"Giáo trình Luật Thương mại quốc tế (Phần 2) - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh" do tập thể tác giả là giảng viên của Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật Thương mại quốc tế (Phần 2) - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
3. Tổng quan nội dung sách
Giáo Trình Luật Thương Mại Quốc Tế - Phần 2 được biên soạn nhằm phục vụ mục đích giảng dạy và học tập trong chương trình đào tạo cử nhân luật của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Giáo trình Luật Thương mại quốc tế gồm hai phần: Phần I - Luật Tổ chức thương mại thế giới và Phần II - Luật Kinh doanh quốc tế.
Giáo hình Luật Thương mại quốc tế - Phần II sẽ cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về mảng pháp luật thương mại quốc tế tư (kinh doanh quốc tế). Phần II - Luật Kinh doanh quốc tế, bao gồm 7 chương, đề cập tới những vấn đề pháp lý cơ bản khác nhau trong kinh doanh quốc tế, như khái niệm đặc điểm của luật kinh doanh quốc tế, chủ thể quan hệ kinh doanh quốc tế; vai trò của hợp đồng thương mại quốc tế và các nguyên tắc cơ bản ừong hợp đồng thương mại quốc tế; các vấn đề pháp lý ừong các giao dịch kinh doanh quốc tế phổ biến như mua bán hàng hóa quốc tế, vận tải quốc tế, nhượng quyền thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế; và giải quyết ữanh chấp trong kinh doanh quốc tế.
Với cấu trúc trên, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế - Phần II sẽ không chỉ nhắm tới việc giới thiệu những kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh quốc tế mà còn đi sâu vào những vấn đề pháp lý của các hoạt động kinh doanh quốc tế phổ biến; bên cạnh đó, giáo trình cũng sẽ trang bị cho người học kỹ năng, phương pháp, tư duy giải quyết các vấn để pháp lý cụ thể phát sinh trong thực thi kinh doanh thương mại quốc tế, qua đó hình thành tư duy pháp lý thiết yếu.
Giáo trình "Luật Thương mại quốc tế - Phần II" được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương 1. Khái quát về Luật kinh doanh quốc tế
I. Tổng quan về kinh doanh quốc tế
1. Khái niệm kinh doanh quốc tế
2. Đặc điểm của kinh doanh quốc tế hiện đại
II. Khái niệm và đặc điểm của luật kinh doanh quốc tế
1. Khái niệm luật kinh doanh quốc tế
2. Đặc điểm của luật kinh doanh quốc tế
III. Chủ thể của luật kinh doanh quốc tế
1. Quốc gia
2. Tổ chức quốc tế
3. Thương nhân
IV. Nguồn của luật kinh doanh quốc tế
1. Pháp luật thương mại quốc gia
2. Điều ước quốc tế
3. Tập quán thương mại quốc tế
4. Các nguyên tắc pháp lý chung
Chương 2. Hợp đồng thương mại quốc tế
I. Dẫn nhập
II. Khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế
III. Các nguyên tắc nền tảng trong giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế
1. Nguyên tắc tự do hợp đồng
2. Nguyên tắc thiện chí - trung thực
3. Nguyên tắc Pacta sunt servanda
IV. Vấn đề chọn luật điều chỉnh trong hợp đồng thương mại quốc tế
V. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại quốc tế
VI. Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng
VII. Các trường hợp miễn trách
Chương 3. Pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế
I. Dẫn nhập
II. Tổng quan về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
III. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
IV. Chuyển dịch rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 4. Pháp luật vận tải quốc tế
I. Dẫn nhập
II. Tổng quan về vận tải quốc tế
III. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
IV. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng hàng không
V. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ
VI. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường sắt
Chương 5. Pháp luật về nhượng quyền thương mại quốc tế
I. Dẫn nhập
II. Tổng quan về nhượng quyền thương mại
1. Khái niệm về nhượng quyền thương mại
2. Đặc điểm cơ bản của nhượng quyền thương mại
3. Phân biệt nhượng quyền thương mại với một số hoạt động thương mại khác có tính chất tương tự
4. Phân loại nhượng quyền thương mại
5. Pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại
III. Hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế
Chương 6. Thanh toán quốc tế
I. Dẫn nhập
II. Khái niệm thanh toán quốc tế
III. Các công cụ thanh toán quốc tế thông dụng
IV. Các phương thức thanh toán quốc tế
Chương 7. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
I. Dẫn nhập
II. Giải quyết tranh chấp theo phương thức lựa chọn
III. Giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài
IV. Công nhận và thi hành quyết định của trong tài nước ngoài
4. Đánh giá bạn đọc
Giáo trình Luật thương mại quốc tế - phần II (Luật Kinh doanh quốc tế) được biên soạn giưới thiệu tới người học những nội dung bao gồm: Những vấn đề pháp lý cơ bản khác nhau trong kinh doanh quốc tế, như khái niệm đặc điểm của luật kinh doanh quốc tế, chủ thể quan hệ kinh doanh quốc tế; vai trò của hợp đồng thương mại quốc tế và các nguyên tắc cơ bản ừong hợp đồng thương mại quốc tế; các vấn đề pháp lý ừong các giao dịch kinh doanh quốc tế phổ biến như mua bán hàng hóa quốc tế, vận tải quốc tế, nhượng quyền thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế; và giải quyết ữanh chấp trong kinh doanh quốc tế.
Cuốn sách là học liệu quan trọng, cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập môn Luật thương mại quốc tế đối với sinh viên Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Giáo trình hoàn toàn có thể là tài liệu tìm hiểu thêm hữu dụng cho sinh viên của những chuyên ngành khác nhau của Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh và những cơ sở giảng dạy luật, kinh tế tài chính và thương mại toàn quốc.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế (phần II) - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh"
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số nội dung về hợp đôgn mua bán hàng hóa quốc tế để bạn đọc tham khảo thêm:
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn các quy định về quy chế hàng hóa được phép mua bán, trao đổi theo pháp luật của nước bên mua và bên bán.
Pháp luật của các quốc gia khác nhau có những quy định không giống nhau về những hàng hóa được phép trao đổi mua bán, từ đó sẽ dẫn đến việc có những hàng hóa theo quy định của nước này thì được phép trao đổi mua bán nhưng theo quy định của pháp luật nước khác thì lại cấm trao đổi mua bán. Như vậy chỉ những hàng hóa nào đều được pháp luật quốc gia của các bên kí kết hợp đồng quy định là được phép trao đổi mua bán thì mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong pháp luật các quốc gia trên thế giới hiện nay, mặc dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông thương mại.
Theo pháp luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tế chẳng hạn như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản:
+ Có thể đưa vào lưu thông;
+ Có tính chất thương mại.
Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (tại điều 2) chỉ loại trừ (không áp dụng) đối với một số loại hàng hóa như chứng khoán, giấy bảo đảm chứng từ và tiền lưu thông, điện năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường không, phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu…
Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 thì hàng hóa bao gồm:
+ Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
+ Những vật gắn liền với đất đai.
Như vậy, với khái niệm này thì hàng hóa là đối tượng của mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí, các bên tham gia giao kết hợp đồng có quyền tự do lựa chọn hình thức thể hiện ý chí thích hợp. Điều này cũng có nghĩa là về nguyên tắc, ý chí không nhất thiết phải được bày tỏ dưới một hình thức nhất định, nó có thể biểu lộ bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi, cử chỉ cụ thể hoặc thậm chí là sự im lặng. Tuy nhiên, để thiết lập sự an toàn pháp lí trong quan hệ hợp đồng cũng như để bảo toàn chứng cứ và bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích xã hội, có những trường hợp hợp đồng giao kết phải tuân theo những hình thức pháp luật quy định, nếu không các bên tham gia giao kết sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi.
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định rất khác nhau trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế. Có pháp luật của một số nước yêu cầu bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản, nhưng pháp luật của một số nước khác lại không có bất kì một yêu cầu nào về hình thức hợp đồng. Mặt khác, ngay cả khái niệm “văn bản” giữa các quốc gia cũng có các quan niệm rộng hẹp khác nhau về những dạng vật chất nhất định chứa đựng thông tin nào được coi là văn bản.
Trong các văn bản pháp lí quốc tế, rất ít khi quy định về điều kiện hình thức của hợp đồng. Theo quy định của Công ước Viên 1980 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được thể hiện dưới bất kì hình thức nào cũng được coi là hợp pháp.
Điều 11 Công ước quy định: hợp đồng mua bán không cần phải được kí kết hoặc xác lập bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng.
Vấn đề này cũng được quy định tương tự trong Bộ nguyên tắc của UNIDROIT 2004 về hợp đồng thương mại quốc tế. Theo quy định tại điều 1.2 của Bộ nguyên tắc thì: không một chi tiết nào của Bộ nguyên tắc yêu cầu một hợp đồng phải được kí kết bằng văn bản hoặc phải được chứng minh có sự thỏa thuận bằng văn bản. Sự tồn tại của một hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kì hình thức nào kể cả bằng nhân chứng.
Tuy nhiên để giảm bớt sự “tùy nghi” của điều 11 Công ước Viên 1980 và có tính đến quy định trong pháp luật quốc gia của một số nước thành viên yêu cầu hình thức của hợp đồng phải là văn bản, tại điều 12 Công ước quy định: nước thành viên của công ước có pháp luật quốc gia yêu cầu hợp đồng phải có hình thức bằng văn bản có thể tuyên bố bảo lưu vấn đề này bất cứ lúc nào. Và điều 96 của Công ước cũng quy định nếu luật của một quốc gia thành viên nào đó quy định hợp đồng phải được kí kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì quy định này phải được tôn trọng, kể cả trong trường hợp chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng phải được thể hiện dưới hình thức văn bản. Theo quy định tại điều 27 Luật thương mại Việt Nam 2005 thì: "mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương".