1. Giới thiệu tác giả
Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh làm chủ biên cùng sự tham gia biên soạn của tập thể tác giả là giảng viên tại trường.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh làm chủ biên
Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
3. Tổng quan nội dung sách
Nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo và cải tiến phương pháp giảng dạy đối với chương trình đào tạo cử nhân Luật tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nhà trường tổ chức biên soạn Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam.
Nội dung cơ bản của Giáo trình bao gồm: Những vấn đề lí luận chung về TTHS và các giai đoạn tố tụng cụ thể trong việc giải quyết vụ án hình sự. Một cách cụ thể, môn học luật TTHS nghiên cứu các vấn đề về khái niệm, nhiệm vụ, các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS; các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong TTHS; những quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc gồm 14 chương như sau:
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn giáo trình cung cấp tới người học những kiến thức pháp lý và thực tiễn về tố tụng hình sự Việt Nam. Giúp người học:
- Hiểu và phân tích được khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của TTHS; xác định được các chủ thể của TTHS; phân tích được các thuộc tính của chứng cứ, các loại chứng cứ và chứng minh trong TTHS; nhận diện được các biện pháp ngăn chặn cụ thể. Nắm bắt được những quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
- Hình thành và phát triển tư duy phản biện, phê phán, giải quyết vấn đề; có khả năng vận dụng phù hợp các quy định của luật TTHS để giải quyết các tình huống cụ thể trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của người cán bộ pháp lí, nhạy bén và với cái mới; say mê với nghề nghiệp, không ngừng học hỏi, tích cực đổi mới tư duy và cách thức giải quyết những vấn đề pháp lí.
Cuốn sách là học liệu quan trọng, cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập môn Luật tố tụng hình sự đối với sinh viên Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Giáo trình hoàn toàn có thể là tài liệu tìm hiểu thêm hữu dụng cho sinh viên của những chuyên ngành khác nhau của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và những cơ sở giảng dạy luật, kinh tế tài chính và thương mại toàn quốc.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự) - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh"
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số nguyên tắc có bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để bạn đọc tham khảo:
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở Điều 8 Hiến pháp năm 2013 và được quán triệt trong quá trình lập pháp và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, nó có ý nghĩa bảo đảm cho việc tiến hành giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác có hiệu quả đồng thời bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này một mặt cụ thể hóa tư tưởng, cách tiếp cận của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng định hướng cho việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người của các chủ thể tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án nhất là của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này xác định địa vị bình đẳng của cá nhân và pháp nhân khi tham gia tố tụng không bị phân biệt, họ có các địa vị pháp lý, quyền và các nghĩa vụ ngang nhau khi ở cùng một tư cách tố tụng. Nguyên tắc này không những khẳng định vị thế bình đẳng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà còn nhấn mạnh đến việc tôn trọng quyền con người, tôn trọng danh dự và vị thế con người của những người tham gia tố tụng trogn quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Nguyên tắc này được quy định trong Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này bao gồm những những nội dung chủ yếu như sau:
- Mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
- Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát trừ trường hợp phạm tội quả tang.
- Nghiêm cấm các hành vi tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người.
Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tác này có những nội dung chủ yếu như sau:
- Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản.
- Mọi hành vi xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.
- Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân,.....
Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân được quy định tại Điều 12 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, dữa liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân là các quyền con người được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn điều tra như khám người, chỗ ở,....Tuy nhiên khi áp dụng nguyên tắc này cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong Luật tố tụng.
- Mọi hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân hoặc các hành vi vi phạm về bí mật an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của công dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc suy đoán vô tội
Đây là một nguyên tắc thuộc nhóm những nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Đây là nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong bộ luật cũ. Nội dung của nguyên tắc:
- Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Nếu có căn cứ để kết tội thì Tòa án sẽ ra bản án kết tội. Một người chỉ có thể bị coi là có tội khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tức là bản án của Tòa án đã tuyên đối với người này là có tội và bản án đó không bị kháng cao, kháng nghị, không có căn cứ để giám đốc thẩm hay tái thẩm
- Người bị tình nghi, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng
- Mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo
Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này được thể hiện với các nội dung sau đây:
- Một tội phạm đã có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì không bị khởi tố điều tra, truy tố, xét xử nữa
- Một người đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì không bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người đó trừ trường hợp họ phạm tội khác.
.........