1. Giới thiệu tác giả TS. Hà Thị Thanh Bình

Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do TS. Hà Thị Thanh Bình làm chủ biên. 

Tập thể tác giả: TS. Hà Thị Thanh Bình; TS. Phạm Trí Hùng; TS. Phan Huy Hùng; GVC.ThS. Nguyễn Thị Thanh Lê; ThS. Đặng Quốc Chương; TS. Trần Hoàng Nga; PGS.TS. Bùi Xuân Hải; ThS. Nguyễn Hoàng Thùy Trang.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại (tái bản lần 1, có sửa đổi và bổ sung)

Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tác giả: TS. Hà Thị Thanh Bình làm chủ biên

Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam

 

3. Tổng quan nội dung sách

Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh" được biên soạn để phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn học cùng tên của Chương trình đào tạo cử nhân luật theo hệ thống tín chỉ của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh ban hành theo văn bản số 542/TTr-ĐHL ngày 05/5/2009 của Hiệu trưởng trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Phù hợp với kết cấu nội dung môn học “Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, giáo trình này gồm hai phần: Phần thứ nhất: Pháp luật về Cạnh tranh; Phần thứ hai: Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại.

Phần thứ nhất của giáo trình gồm 5 chương, trình bày các nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

Mở đầu là chương giới thiệu tổng quan về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh, các chương tiếp theo trình bày về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật về kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh.

Phần thứ hai gồm 3 chương tập trung trình bày về các phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tòa án bao gồm thương lượng, hòa giải và trọng tài. Việc giải quyết bằng tòa án các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại thuộc nội dung môn học Luật Tố tụng dân sự và được trình bày trong Giáo trình Luật Tố tụng dân sự.

Cuốn giáo trình được biên soạn với mục đích cung cấp cho người học những kiến thức nền tảng lien quan đến nên dung môn học trên cơ sở pháp luật thực định có hiệu lực tại thời điểm biên soạn. Bên cạnh việc phân tích các quy định pháp luật, các tác giả đưa ra các luận điểm nhằm gợi mở và khuyến khích người học tranh luận trong thảo luận nhóm và tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Ngoài ra, cuối mỗi chương đều có các câu hỏi ôn tập nhằm giúp người hoc hệ thống lại các kiến thức đã học.

 

4. Đánh giá bạn đọc

Giáo trình được biên soạn cung cấp tới người học những nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam và Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại đực cập nhật quy định pháp luật liên quan tại Bộ Luật dân sự 2005 - Bộ Luật dân sự 2015; Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Luật doanh nghiệp 2020;Luật đầu tư 2020; Luật Thương mại 2005; Luật Cạnh tranh 2004 - Luật cạnh tranh 2018; Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và Luật Trọng tài thương mại 2010.

Cuốn sách là học liệu quan trọng, cần thiết đối với sinh viên Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này nói chung.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh"

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm và hình thức xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh "ép buộc trong kinh doanh" theo quy định tại Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh để bạn đọc tham khảo:

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác.

Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm gồm:

1. Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh dưới các hình thức sau đây:

a) Tiếp cận, thu thập thông tin bí mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu thông tin đó;

b) Tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó.

2. Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.

3. Cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.

4. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đó.

5. Lôi kéo khách hàng bất chính bằng các hình thức sau đây:

a) Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác;

b) So sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung.

6. Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó.

7. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác bị cấm theo quy định của luật khác.

Phân tích hành vi "ép buộc trong kinh doanh"

Khoản 2 Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2018 định nghĩa về ép buộc trong kinh doanh cụ thể như sau: Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó”Theo khái niệm trên hành vi ép buộc trong kinh doanh có cấu thành pháp lý bao gồm các yếu tố sau:

- Đối tượng của hành vi là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác. Từ dấu hiệu này, có thể thấy, bằng hành vi của mình doanh nghiệp vi phạm đã không trực diện giao tiếp với doanh nghiệp khác (đối thủ), mà tác động đến khách hàng hoặc đối tác của họ. Khách hàng, đối tác kinh doanh có thể là các tổ chức, cá nhân đang giao dịch hoặc sẽ giao dịch (khách hàng tiềm năng) của doanh nghiệp khác; có thể là người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân có giao dịch với doanh nghiệp bị xâm phạm.

- Hình thức của hành vi là doanh nghiệp vi phạm dùng thủ đoạn đe dọa hoặc cưỡng ép những đối tượng trên để buộc họ không được giao dịch, ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác. Dấu hiệu này được làm rõ từ những nội dung sau đây:

+ Việc đe dọa hoặc cưỡng ép được thực hiện nhằm khống chế ý chí của khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp vi phạm có thể trực tiếp hoặc gián tiếp với vai trò tổ chức hoặc thuê mướn người khác thực hiện các thủ đoạn đe dọa, cưỡng ép các đối tượng trên. Phương thức đe dọa, cưỡng ép rất đa dạng và không giống nhau trong các vụ việc cụ thể.

+ Yêu cầu được doanh nghiệp vi phạm đưa ra cho người bị đe dọa, bị cưỡng ép là không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác. Yêu cầu này có thể được đặt ra công khai hoặc ẩn chứa trong thủ đoạn đe dọa, cưỡng ép để các đối tượng bị tác động phải hiểu ngầm.

- Sự không lành mạnh của hành vi được chứng minh bằng các hậu quả gây ra cho khách hàng (người tiêu dùng, đối tác của doanh nghiệp khác) và doanh nghiệp bị xâm hại:

+ Với khách hàng, quyền lựa chọn của họ bị xâm phạm do bị ngăn trở, bị cưỡng ép mà không thể thiếp lập được giao dịch, không tiếp tục thực hiện được giao dịch theo ý chí của mình. Quyền lựa chọn bị khống chế sẽ dẫn đến khả năng khách hàng phải giao dịch với doanh nghiệp vi phạm hoặc người được chỉ định. Dấu hiệu ép buộc khách hàng phải giao dịch với mình hoặc với người mà mình chỉ định khi điều tra về hành vi ép buộc không được đặt ra.

+ Hành vi này mang bản chất côn đồ trong kinh doanh, có thể gây ra những xáo trộn trong xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an ninh của cộng đồng, là những dấu hiệu không lành mạnh trong đời sống kinh doanh đòi hỏi pháp luật và công quyền phải thẳng tay trừng trị.

+ Với các doanh nghiệp khác, việc không thiết lập được, không thực hiện được những giao dịch của họ với khách hàng có thể làm cho tình hình kinh doanh bị ngăn trở, rối loạn. Mặc dù đối tượng của hành vi ép buộc trong kinh doanh là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp vi phạm, song thủ đoạn cản trở khách hàng thiết lập, thực hiện giao dịch cũng đã làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bị cản trở hoặc bị hạn chế.

Điều 17 Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính đối với "Hành vi ép buộc trong kinh doanh" như sau:

1. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.

2. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp ép buộc khách hàng hoặc đối tác kinh doanh lớn nhất của đối thủ cạnh tranh.

3. Phạt tiền gấp hai lần mức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này đối với hành vi vi phạm tại khoản 1, khoản 2 Điều này trong trường hợp hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính về cạnh tranh;

b) Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.