1. Giới thiệu tác giả TS. Lê Minh Hùng (chủ biên)

Cuốn "Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh" do tập thể tác giả là giảng viên tại trường biên soạn, chủ biên bởi TS. Lê Minh Hùng.

Tập thể tác giả gồm:

1. TS. Lê Minh Hùng

2. TS. Phạm Kim Anh

3. TS. Chu Hải Thanh

4. ThS. Nguyễn Xuân Quang

5. ThS. Chế Mỹ Phương Đài

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tác giả: TS. Lê Minh Hùng (chủ biên)

Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam

 

3. Tổng quan nội dung sách

Nhằm có đủ tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học viên, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và cải tiến phương pháp giảng dạy đối với chương trình đào tạo cử nhân luật tại trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường cho biên soạn Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế.
Nội dung cơ bản của giáo trình bao gồm: khái quát về tài sản, quyền sở hữu tài sản, các hình thức sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu bằng luật dân sự, khái luận về quyền thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán nợ từ di sản và phân chia di sản.
Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương 1. Tài sản và quyền sở hữu
1. Tài sản theo quy định của pháp luật dân sự
2. Khái quát về sở hữu và quyền sở hữu
Chương 2. Các hình thức sở hữu
1. Sở hữu nhà nước
2. Sở hữu tập thể
3. Sở hữu tư nhân
4. Sở hữu chung
5. Các hình thức sở hữu khác
Chương 3. Bảo vệ quyền sở hữu bằng luật dân sự
1. Khái niệm và đặc điểm của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng Luật dân sự
2. Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng Luật dân sự
Chương 4. Khái luận về quyền thừa kế
1. Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế và các nguyên tắc chung
2. Các quy định chung về quyền thừa kế
Chương 5. Thừa kế theo di chúc
1. Khái niệm di chúc và thừa kế theo di chúc
2. Các điều kiện để di chúc có hiệu lực
3. Hiệu lực pháp luật của di chúc, di chúc vô hiệu và di chúc thất hiệu
4. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc; công bố, gửi giữ và giải thích di chúc
5. Di chúc chung của vợ, chồng
6. Các quy định khác về thừa kế theo di chúc
Chương 6. Thừa kế theo pháp luật
1. Khái niệm thừa kế theo pháp luật, những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật
2. Người thừa kế theo pháp luật
3. Thừa kế thế vị
Chương 7. Thanh toán nợ từ di sản, phân chia di sản
1. Họp mặt những người thừa kế, xác định di sản thừa kế
2. Thanh toán nợ từ di sản
3. Phân chia di sản
 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn giáo trình được biên soạn bám sát cấu trúc của Bộ luật dân sự 2015, giới thiệu tới người học những nội dung cơ bản của môn học Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, gồm: tài sản, chiếm hữu tài sản; quyền sở hữu tài sản; quyền khác đối với tài sản; bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bằng Luật Dân sự; quyền thừa kế; thừa kế theo di chúc; thừa kế theo pháp luật; thanh toán nghĩa vụ tài sản, phân chia di sản.

"Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế" là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập Bộ môn pháp luật dân sự đối với sinh viên tại Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, với lối biên soạn chi tiết, cụ thể, dễ hiểu, cuốn sách cũng là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho mọi bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về những vấn đề pháp lý cơ bản nhất về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế.

Cuốn giáo trình được tái bản nhiều lần, có sửa đổi, bổ sung để cập nhật tới người học những chính sách, quy định mới về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế.

 

Kết luận: Pháp luật dân sự là môn học quan trọng và tiên quyết đối với sinh viên chuyên ngành luật, cuốn giáo trình chính là khung nội dung căn bản nhất để dẫn dắt người học tiếp cận với các vấn đề dân sự về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế một cách khoa học nhất.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung phân tích về "Vật" trong cuốn giáo trình để bạn đọc tham khảo:

Vật đóng vai trò rất quan trọng trong quan hệ pháp luật dân sự. Trong luật dân sự có thể hiểu khái niệm vật như sau:
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất được giới hạn trong không gian và có khả năng đáp ứng được những nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của con người và con người ta có khả năng chiếm hữu được. Như vậy, chỉ được coi là vật đối tượng của quyền sở hữu nếu đắp ứng các điều kiện:
- Là một bộ phận của thế giới vật chất;
- Phải có ít, tức có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người;
- Con người có khả năng chiếm hữu được.
Như vậy, không phải mọi vật thể trong thế giới vật chất đều là vật theo quan điểm của luật dân sự. Có những thứ rất có ích, ví dụ không khí rất có ích cho con người, nhưng con người không chiếm hữu được thì cũng không phải là vật - đối tượng của quyền sở hữu. Nhưng nếu đó là loại không khí chiếm chiếm hữu được, như bình oxy, tức là giới hạn trong không gian (chiếm một khoảng không) thì lại là vật - tài sản thuộc quyền sở hữu. Điện (năng lượng) tuy chúng ta không nhìn thấy và không thể nắm giữ trong tay được nhưng rất có ích cho con người và con người chi phối được nó (tức đo đếm được) thì vẫn được coi là vật - tài sản của quyền sở hữu. Tùy thuộc vào sự phát triển của khoa học kĩ thuật và có những thứ hiện nay chưa phải là vật nhưng sau này lại có thể trở thành vật. Tài sản thuộc quyền sở hữu khi người ta khám phá ra những lợi ích của nó và chi phối được nó.
Khái niệm vật trong luật dân sự cũng khác khái niệm vật trong đời sống hằng ngày. Vật trong đời sống hằng ngày thường được hiểu là những vật vô tri vô giác, như chiếc tivi, cái cày, cái bàn, cái bát,... còn súc vật, cây cối, hay chiếc máy bay lại không được coi là vật. Trong luật dân sự, vật có thể bao gồm con vật, đồ vật, thậm chí là tài nguyên thiên nhiên dưới lòng đất hoặc là những thứ thể hiện của vật chất như năng lượng. Ngoài ra, vật không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm những vật chắc chắn sẽ có trong tương lai, ví dụ: hoa lợi, lợi tức. Đây chính là sự gia tăng của tài sản trong những điều kiện nhất định. Vật là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật và thực vật. Vật có thể tồn tại ở mọi trạng thái vật lý: rắn, lỏng, khí nhưng khái niệm vật theo nghĩa vật lý không đồng nghĩa với khái niệm vật theo nghĩa pháp lý.
Như vậy, có thể thấy khái niệm vật ở đây tuy cũng mang tính chất xã hội (tức không đơn thuần hiểu theo khái niệm vật lý) nhưng khái niệm vật với khái niệm tài sản và khái niệm hàng hóa cũng khác nhau. Khái niệm tài sản trong luật dân sự bao hàm nhiều nghĩa, nó phụ thuộc vào quan hệ tài sản mà người ta xét đến. Tài sản có thể là vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản và nhiều khi còn được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ tài sản nữa. Khái niệm tài sản cũng khác khái niệm hàng hóa. Hàng hóa trong khoa học chính trị kinh tế học là sản phẩm do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa đó lên đất đai, tài nguyên thiên nhiên là vật nhưng không phải là hàng hóa vì không gắn với lao động xã hội.

Câu hỏi 1: Hiệu lực của di chúc được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự 2015, hiệu lực của di chúc được quy định như sau:

1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Câu hỏi 2: Trước khi phân chia di sản phải ưu tiên thanh toán những nghĩa vụ nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự 2015, trước khi phân chia di sản, phải ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế theo thứ tự như sau:

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.

3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.

4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.

5. Tiền công lao động.

6. Tiền bồi thường thiệt hại.

7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.

9. Tiền phạt.

10. Các chi phí khác.