1. Giới thiệu tác giả TS. Trương Thị Thúy Bình
Cuốn "Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế" của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Trương Thị Thúy Bình làm chủ biên.
Tập thể tác giả gồm:
1. TS. Trương Thị Thúy Bình
2. PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung
3. TS. Đinh Mạnh Tuấn
4. TS. Trần Quang Thắng
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả: TS. Trương Thị Thúy Bình
Nhà xuất bản Tư Pháp
3. Tổng quan nội dung sách
Quan hệ kinh tế quốc tế luôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Đặc biệt khi quốc gia đó thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại Việt Nam, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn được Đảng ta đề cập xuyên suốt trong các kỳ Đại hội từ VI đến đại hội VII nhằm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đưa Việt Nam từng bước, chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đến nay, sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, đã mở ra không gian phát triển cho nền kinh tế Việt Nam, giúp Việt Nam hợp tác sâu, rộng với các quốc gia trong khu vực và thế giới nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Theo đó, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia trên thế giới, ký kết được hàng trăm hiệp định thương mại và đầu tư song phương; tham gia vào tổ chức kinh tế khu vực như: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (TPTPP); Cùng các nước trong khu vực tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC); Tham gia đàm phán và ký kết hàng chục hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia vào các quy chế kinh tế quốc tế với phạm vi hoạt động toàn cầu như quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Môn học quan hệ kinh tế quốc tế là môn học được tiếp cận dưới góc độ môn học liên ngành bao gồm kinh tế học, kinh tế quốc tế, quan hệ quốc tế, pháp luật thương mại quốc tế, cung cấp những kiến thức đại cương và nền tảng để giúp sinh viên có thể tiếp cận tốt những môn học thuộc khối kiến thức chuyên nghiệp của ngành luật thương mại quốc tế như Luật WTO, Pháp luật điều chỉnh thương mại hàng hóa quốc tế, pháp luật điều chỉnh thương mại dịch vụ quốc tế, luật đầu tư quốc tế. Tương tự, môn học này cũng nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về quan hệ kinh tế quốc tế, làm nền tảng và bổ trợ cho việc nghiên cứu những môn học luật và lĩnh vực pháp luật có liên quan đến kinh tế quốc tế như công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, luật thương mại quốc tế… trong chương trình đào tạo ngành luật. Ngoài ra, muốn học còn giúp cho sinh viên nâng cao khả năng phân tích, đánh giá để tìm hiểu những diễn biến kinh tế đang xảy ra ở phạm vi trong nước và quốc tế.
Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế được biên soạn hướng tới phục vụ sinh viên ngành luật và ngành luật thương mại quốc tế. Do đó, các tác giả đã tiếp cận nghiên cứu quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu từ khoa học về quan hệ quốc tế, luật học đặc biệt là quý của định của WTO và kinh tế vĩ mô.
Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu trình bày những nội dung mà chúng tôi cho là cốt lõi, cơ bản và cần thiết, trang bị cho sinh viên ngành luật và ngành luật thương mại quốc tế trong điều kiện hiện nay.
Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương I: Những vấn đề chung về quan hệ kinh tế quốc tế
1. Khái quát về quan hệ kinh tế quốc tế và lên kinh tế thế giới
2. Xu hướng phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế trong thời gian tới
3. Vấn đề lựa chọn chiến lược kinh tế đúng loại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương II: Các học thuyết và nguyên tắc cơ bản trong quan hệ kinh tế quốc tế
1. Một số học thuyết về thương mại quốc tế
2. Thương mại quốc tế
3. Chính sách thương mại quốc tế
Chương III: Quan hệ thương mại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ
1. Tổng quan về đầu tư quốc tế
2. Các loại hình đầu tư quốc tế
Chương IV: Quan hệ đầu tư quốc tế
1. Tổng quan di chuyển quốc tế về lao động
2. Tác động của di chuyển quốc tế về lao động
3. Di chuyển lao động trong khuôn khổ ASEAN
Chương V: Quan hệ tài chính – tiền tệ quốc tế
1. Thị trường ngoại hối
2. Tỷ giá hối đoái
3. Cán cân thanh toán quốc tế
4. Các hệ thống tiền tệ quốc tế
Chương VI: Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu
1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
2. Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế
3. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
4. Đánh giá bạn đọc
Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế được biên soạn giới thiệu tới bạn đọc những nội dung cơ bản của môn học Quan hệ kinh tế quốc tế, gồm: những vấn đề chung về quan hệ kinh tế quốc tế; quan hệ về thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế; di chuyển quốc tế về lao động; quan hệ tài chính – tiền tệ quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội là học liệu chính thức sử dụng trong giảng dạy, học tập môn học Quan hệ kinh tế quốc tế và một số chuyên đề tự chọn thuộc chương trình đào tạo cử nhân luật, cử nhân chuyên ngành luật kinh tế, luật thương mại quốc tế và các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Đối với cơ sở đào tạo khác, giáo trình luật thương mại cũng có thể được sử dụng làm học liệu cho các môn học có nội dung tương tự như luật kinh tế, luật kinh doanh.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế" của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây nội dung phân tích về đặc điểm của chế độ bản vị vàng trong hệ thống tiền tệ quốc tế để bạn đọc tham khảo:
Hệ thống tiền tệ quốc tế trong tiếng Anh gọi là International Monetary System.
Hệ thống tiền tệ quốc tế là một loạt các nguyên tắc, qui định, các công cụ và các tổ chức để cho việc thanh toán quốc tế có hiệu quả.
Hệ thống tiền tệ quốc tế có thể được phân chia theo chế độ tỉ giá hoặc theo cách xác định tài sản dự trữ quốc tế. Theo chế độ tỉ giá có hệ thống tiền tệ quốc tế theo chế độ tỉ giá cố định và theo chế độ tỉ giá thả nổi.
Phân loại theo cách xác định tài sản dự trữ tế chúng ta có hệ thống tiền tệ theo chế độ bản vị vàng (vàng là tài sản dự trữ quốc tế duy nhất), hệ thống tiền tệ theo chế độ bản vị của một đồng tiền quốc gia (ví dụ như bản vị đồng đôla).
Trong thực tế, thường có những sự kết hợp khác nhau trong cách phân loại trên.
Ví dụ: Hệ thống tiền tệ theo chế độ bản vị vàng là hệ thống tỉ giá cố định. Nhưng cũng có hệ thống tỉ giá cố định mà không có sự liên hệ với vàng. Trong chế độ này, dự trữ quốc tế là một số đồng tiền quốc gia (chẳng hạn như đôla Mỹ) không được chuyển đổi ra vàng.
Hệ thống tiền tệ quốc tế tốt là một hệ thống mà tối đa hóa được các quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế, đảm bảo sự cân bằng về lợi ích của các quốc gia do thương mại và đầu tư quốc tế đem lại.
Chế độ bản vị vàng
Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng.
Chế độ bản vị vàng được áp dụng phổ biến ở Anh và hầu hết các nước châu Âu, dẫn đầu là Đức trong thập niên 70 của thế kỉ XX, và tiếp sau là Mỹ vào năm 1879. Năm 1880, bản vị vàng từ một số ít quốc gia đã phát triển thành “hệ thống tiền tệ quốc tế” với hầu hết các nước áp dựng. Khi bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914, bản vị vàng bị bỏ rơi, và trong hơn 30 năm từ 1880 đến 1914 hệ thống bản vị vàng quốc tế đã thống trị ở hầu khắp các nước, nó đã liên kết chặt chẽ các quốc gia lớn với nhau cũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc địa trong suốt thời gian này.
Những đặc điểm trong hoạt động của chế độ bản vị vàng:
- Vàng được coi là tiền tệ trên thế giới, được phép dĩ chuyển tự do giữa các nước và được dùng làm phương tiện thanh toán quốc tế.
- Các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng; hay nói cách khác, chính phủ ấn định cố định giá vàng tính bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quy định. Ví dụ, ở Mỹ, 1 ounce vàng nguyên chất (480 grains) = 20,67 USD. Các quốc gia đều phải dự trữ số vàng đủ để bảo đảm thanh toán, chuyển đổi khi có nhu cầu.
- Tỉ giá hối đoái giữa đồng tiền các quốc gia được xây dựng căn cứ vào tỉ lệ cố định giữa bản vị vàng của các đồng tiền. Ví dụ, đồng bảng Anh được ấn định bằng tỉ lệ 6 bảng = 1 ounce vàng, trong khi đó đồng franc Pháp có giá 30 Franc = 1 ounce. Như vậy, tỉ giá hối đoái giữa đồng bảng Anh và đồng franc Pháp sẽ là: 1 bảng = 5 franc.
Chế độ bản vị vàng giữa các năm 1880 - 1914 là một hệ thống đơn giản, phù hợp với nhận thức và thực tiễn thanh toán và quan hệ kinh tế quốc tế lúc đó. Nó đã góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế quốc tế thời kì này. Tuy nhiên, sang đầu thế kỉ XX, khi quan hệ thương mại và đầu tư tăng mạnh, mặt khác, các quốc gia đều có xu hướng bội chi ngân sách bằng cách in thêm tiền (lạm phát), số lượng vàng dự trữ trên thực tế không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán, hệ thống bản vị vàng tỏ ra không còn phù họp và bị sụp đổ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.