1. Giới thiệu tác giả

Cuốn "Giáo trình quản lý nhà nước về lâm nghiệp" do TS. Bùi Kim Hiếu (Giảng viên Trường Đại học Đà Lạt) biên soạn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình quản lý nhà nước về lâm nghiệp

Giáo trình quản lý nhà nước về lâm nghiệp

Tác giả: Bùi Kim Hiếu

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

 

3. Tổng quan nội dung sách

Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản.

Hoạt động lâm nghiệp bao gồm một hoặc nhiều hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản.

Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ, văn hóa, xã hội,... của rừng. Hoạt động lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội. Có thể tóm tắt một số vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, vai trò cung cấp:

- Cung cấp lâm sản, đặc sản cây công nghiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, trướchết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ.

- Cung cấp thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư.

- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nông nghiệp, xây dựng cơ bản.

- Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người

- Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm... phục vụ nhu cầu đời sống xã hộ

Thứ hai, vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái:

- Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữgìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện.

- Phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn...bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển...

- Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảmthiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển.

- Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt và hạnhán, tăng độ ẩm cho đất...

- Bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch...

- Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữsinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.

Thứ ba, vai trò xã hội: Là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dâcư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội.

Với vai trò to lớn tác động tới sự phát triển ổn định, bền vững của quốc gia, việc xây dựng các cơ chế quản lý nhà nước về lâm nghiệp là vô cùng quan trọng, làm sao đảm bảo khai thác được tiềm năng kinh tế của rừng, bảo đảm cuộc sống của dân cư, đồng thời đáp ứng yêu cầu về vấn đề môi trường, cân bằng sinh thái.

Với sự thay thế của Luật Lâm nghiệp 2017 đối với Luật Bảo vệ và phát triển rừng, phạm vi điều chỉnh của Luật Lâm nghiệp đã được mở rộng hơn, Lâm nghiệp đã được coi là ngành kinh tế - xã hội. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ quy định đến hình thành rừng, tức là từ quản lý đến bảo vệ, phát triển rừng. Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã mở rộng đến các lĩnh vực chế biến và thương mại, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế. Như vậy, Luật đã khẳng định lâm nghiệp là ngành kinh tế - xã hội có liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; khẳng định ngành Lâm nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, vừa phát huy giá trị xã hội là thích ứng với biến đổi khí hậu với đòi hỏi phải quản lý bền vững. Luật Lâm nghiệp (Luật số 16/2017/QH14) được Quốc hội khóa 14, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 15/11/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Luật gồm 12 chương, 108 điều quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản. Luật Lâm nghiệp đã thể chế hóa được các chủ trương lớn của Đảng: Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và Chỉ thị 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Quản lý nhà nước về lâm nghiệp là một môn học được đưa vào trương trình giảng dạy tại Trường Đại học Đà Lạt. Nhằm phục vụ công tác dạy và học hiệu quả môn học này, Tiến sỹ Bùi Kim Hiếu đã biên soạn cuốn "Giáo trình quản lý nhà nước về lâm nghiệp".

Trên cơ sở quy định của pháp luật về tài nguyên rừng, cuốn sách tập trung phân tích và lý giải ở góc độ khoa học những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đồng thời đưa ra quan điểm, nhận thức, đánh giá việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Nội dung cuốn sách được xây dựng với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1: Khái quát chung về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

1. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

Chương 2: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ở Việt Namhiện nay

1. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung

2. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn

3. Nhận xét chung về hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

Chương 3: Những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

1. Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

2. Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng

3. Công nhận, đăng ký, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, để thừa kế quyền sử dụng rừng, chủ sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng

4. Thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng

5. Tổ cức quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và sử dụng rừng

Chương 4: Phát luật về đất lâm nghiệp và chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp

1. Pháp luật về chế độ sử dụng đất lâm nghiệp

2. Các chính sách chủ yếu khuyến khích phát triển lâm nghiệp

Chương 5: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

2. Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

Chương 6: Tội phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và hoạt động điều tra hình sự của cơ quan kiểm lâm

1. Tội phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

2. Hoạt động điều tra hình sự của cơ quan kiểm lâm

 

4. Đánh giá bạn đọc

Pháp luật quản lý nhà nước về lâm nghiệp tuy không đã dạng, phức tạp xong đó là một lĩnh vực pháp lý quan trọng, do đó, muốn nắm bắt được những điều căn bản nhất cần thiết có một tài liệu hệ thống khoa học về vấn đề này để bạn đọc thuận tiện tra cứu, tìm hiểu và vận dụng.

Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập đối với giảng viên, sinh viên tại Trường Đại học Đà Lạt, đồng thời cuốn sách cũng là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích dành cho những ai quan tâm tới lĩnh vực pháp lý này.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình quản lý nhà nước về lâm nghiệp".

Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây quy định về thu hồi rừng theo quy định tại Luật lâm nghiệp 2017 để bạn đọc tham khảo:

Điều 22. Thu hồi rừng

1. Nhà nước thu hồi rừng trong các trường hợp sau đây:

a) Chủ rừng sử dụng rừng không đúng mục đích, cố ý không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về lâm nghiệp;

b) Chủ rừng không tiến hành hoạt động bảo vệ và phát triển rừng sau 12 tháng liên tục kể từ ngày được giao, được thuê rừng, trừ trường hợp bất khả kháng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận;

c) Chủ rừng tự nguyện trả lại rừng;

d) Rừng được Nhà nước giao, cho thuê khi hết hạn mà không được gia hạn;

đ) Rừng được giao, được thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;

e) Chủ rừng là cá nhân khi chết không có người thừa kế theo quy định của pháp luật;

g) Các trường hợp thu hồi đất có rừng khác theo quy định của Luật Đất đai.

2. Chủ rừng được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi rừng vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; giao rừng, cho thuê rừng không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng.

Điều 44. Bồi thường thiệt hại về rừng trong trường hợp thu hồi rừng được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng

1. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi rừng có trách nhiệm thành lập hội đồng định giá:

a) Xác định tiền thuê rừng còn lại của chủ rừng trong tổng số tiền thuê rừng chủ rừng đã nộp cho Nhà nước mà số tiền đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

b) Xác định giá trị lâm sản tăng thêm, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đã đầu tư hợp pháp trên diện tích rừng được giao, được thuê mà tiền đầu tư đó không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

2. Tiền thuê rừng còn lại và giá trị lâm sản tăng thêm, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đã đầu tư hợp pháp quy định tại khoản 1 Điều này thuộc sở hữu của chủ rừng được Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

3. Trường hợp thu hồi rừng mà rừng đó đã chuyển nhượng quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp thu hồi rừng mà chủ rừng bị thu hồi rừng đã thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng thì quyền lợi của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận thế chấp, nhận bảo lãnh hoặc nhận góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.