1. Giới thiệu tác giả
Giáo trình Tâm lí học đại cương của Trường Đại học Luật Hà Nội do PGS.TS. Đặng Thanh Nga chủ biên.
Tập thể tác giả: PGS.TS. Đặng Thanh Nga; ThS. Phan Kiều Hạnh; TS. Bùi Kim Chi; TS. Chu Văn Đức; TS. Chu Liên Anh; ThS. Dương Thị Loan; ThS. Phan Công Luận.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Tâm lí học đại cương của Trường Đại học Luật Hà Nội
Tác giả: PGS.TS. Đặng Thanh Nga chủ biên
Nhà xuất bản Công an nhân dân
3. Tổng quan nội dung sách
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi, tìm hiểu về các hiện tượng ý thức và vô thức, cũng như cảm xúc và tư duy. Đây là một bộ môn học thuật với quy mô nghiên cứu rất sâu rộng.
Các nhà tâm lý học tìm hiểu về những tính chất rõ nét của não bộ và những hiện tượng đa dạng liên kết với những tính chất trên. Ở phương diện y sinh này, tâm lý học gắn bó chặt chẽ và là một phần của khoa học thần kinh. Từ phương diện khoa học xã hội, tâm lý học tìm hiểu về các cá nhân và cộng đồng bằng cách thiết lập những nguyên tắc chung và nghiên cứu những trường hợp đặc trưng.
Trong lĩnh vực này, người có chuyên môn ứng dụng hoặc nghiên cứu lý thuyết được gọi là nhà tâm lý học, hoặc có thể được phân loại thành nhà nghiên cứu xã hội, nhà nghiên cứu hành vi hay nhà nghiên cứu nhận thức. Nhiệm vụ của nhà tâm lý học là tìm hiểu vai trò của chức năng tâm thần (mental functions) trong hành vi cá nhân hay hành vi xã hội, cùng với việc khám phá những quy trình sinh học thần kinh và sinh lý, là cơ sở của chức năng nhận thức và hành vi.
Nhà tâm lý học khám phá các quy trình tâm thần và hành vi, bao gồm những khái niệm như tri giác, nhận thức, chú ý, cảm xúc, trí tuệ, trải nghiệm chủ quan, động cơ, chức năng não, và nhân cách; mở rộng ra những lĩnh vực về giao tiếp con người như mối quan hệ cá nhân, bao gồm bình tâm năng, gia tâm năng và những khái niệm có liên quan khác. Các trạng thái và hoạt động của tâm trí vô thức cũng được nghiên cứu và xem xét trong tâm lý học. Nhà tâm lý học sử dụng các phương thức nghiên cứu kinh nghiệm để diễn giải mối quan hệ nhân quả và tương quan giữa những yếu tố tâm lý - xã hội. Ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh nghiệm và suy diễn, một số nhà tâm lý học - nhất là các nhà tâm lý học lâm sàng và tham vấn - đôi khi cũng dựa vào thông diễn học và các phương pháp quy nạp khác. Tâm lý học được miêu tả như một ngành"khoa học trung tâm", với những khám phá trong ngành có ảnh hưởng đến những nghiên cứu và quan điểm của những bộ môn như khoa học xã hội, khoa học thần kinh, và y học.
Bên cạnh việc những kiến thức tâm lý học thường được ứng dụng vào việc đánh giá tâm lý và trị liệu cho các vấn đề về sức khỏe tâm thần, nó còn trực tiếp hỗ trợ cho việc nắm bắt và xử lý những vấn đề thuộc về hành vi và hoạt động của con người. Dưới nhiều góc nhìn khác nhau, tâm lý học có mục đích cuối cùng là mang lại ích lợi cho xã hội.
Việc chỉnh lý Giáo trình Tâm lý học đại cương căn cứ vào chương trình, mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội và được xây dựng phù hợp với chương trình khung do bộ giáo dục và đào tạo quy định.
Giáo trình tâm lí học đại cương được biên soạn gồm 8 chương với cấu trúc như sau:
Chương I : Tâm lý học là một ngành khoa học
1. Sơ lược lịch sử tâm lý học
2. Bản chất của hiện tượng tâm lý
3. Chức năng của tâm lý
4. Phân loại hiện tượng tâm lý
5. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học
6. Các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu tâm lý học
7. Vị trí của tâm lý học và các lĩnh vực của tâm lý học
Chương II : Ý thức và vô thức
1. Ý thức
2. Vô thức
Chương III : Chú ý
1. Khái niệm chung về chú ý
2. Các thuộc tính của chú ý
3. Phân loại chú ý
Chương IV : Hoạt động
1. Một số khái niệm
2. Đặc điểm của hoạt động
3. Cấu trúc của hoạt động
4. Quá trình hoạt động cơ hóa
5. Sự sai lệch hành vi cá nhân và hành vi xã hội của nhân cách
Chương V : Hoạt động nhận thức
1. Hoạt động nhận thức cảm tính
2. Hoạt động nhận thức lý tính
3. Trí nhớ
Chương VI : Xúc cảm và tình cảm
1. Khái niệm xúc cảm, tình cảm
2. Vai trò của xúc cảm, tình cảm
3. Bản chất xã hội của xúc cảm, tình cảm
4. Các đặc điểm đặc trưng của tình cảm
5. Các quy luật của xúc cảm, tình cảm
6. Các mức độ của xúc cảm, tình cảm
7. Trí tuệ cảm xúc
Chương VII: Ý chí
1. Khái niệm ý chí
2. Các phẩm chất của ý chí
3. Hành động ý chí
Chương VIII: Nhân cách
1. Một số khái niệm
2. Đặc điểm của nhân cách
3. Cấu trúc của nhân cách
4. Mối quan hệ giữa các thuộc tính tâm lý nhân cách
5. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
6. Các giai đoạn phát triển tâm lý nhân cách
7. Rèn luyện nhân cách
4. Đánh giá bạn đọc
Giáo trình Tâm lí học đại cương được biên soạn giới thiệu tới người học những nội dung cơ bản nhất gồm: những vấn đề lí luận về khoa học tâm lí học; ý thức và vô thức; chú ý; hoạt động; hoạt động nhận thức; xúc cảm và tình cảm; ý chí và nhân cách.
Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ học tập và giảng dạy môn Tâm lí học đại cương của học viên, sinh viên và giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội. Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu pháp lý trong lĩnh vực này.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Tâm lí học đại cương - Đại học Luật Hà Nội".
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung về bản chất của tâm lý để bạn đọc tham khảo:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất xã hội - lịch sử.Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thểTâm lý người không phải do thượng đế hay do trời sinh ra, cũng không phải là do não tiết ra như gan tiết ra mặt, tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não con người thông qua "lăng kính chủ quan".Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vận động. Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động. Nói một cách chung nhất, phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ thống này và hệ thống khác, kết quả là để lại số bút tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động, chẳng hạn:- Viên phấn được dùng để viết lên bảng đen để lại viết phấn trên bản và ngược lại bạn đang làm mồi để lại vết trên viên phấn phản ánh cơ học.Phản ánh tâm lý là một loại phản ánh đặc biệt:- Đó là sự tác động của hiện thực khách quan vào con người, vào hệ thần kinh, bộ não người tổ chức cao nhất của vật chất. Chỉ có hệ thần kinh và não bộ mới có khả năng nhận tác động của hiện thực khách quan, tạo ra trên não thì ở tinh thần tâm lý chứa đựng trong bếp vật chất, đó là các quá trình sinh lý, sinh hóa ở trong hệ thần kinh và não bộ. Các mác cho rằng, tinh thần, tư tưởng, tâm lý chẳng qua là vật chất được chuyển vào trong đầu óc, biến đổi trong đó mà có.- Phản ánh tâm lý tạo ra hình ảnh tâm lý (bản sao chép, bản chụp) về thế giới. Tâm lý là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào não. Song hình ảnh tâm lý khác về chất so với các ngành cơ, Vật lý, sinh vật ở những điểm sau:+ Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo, Ví dụ: hình ảnh tâm lý về cuốn sách trong đầu một người viết chữ khác xa về chất với ngành vật lý có tính chất chết cứng, hình ảnh vật chất của chính quyển sách đó có ở trong gương.+ Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân hoặc nhóm người mang hình ảnh tâm lý đâu, hay nói cách khác, hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan. Tính chủ thể của hình ảnh tâm lý thể hiện cụ thể là: mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, đưa cái riêng của mình vào trong hình ảnh đó, làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan.Nói cách khác, con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lý, thông qua lăng kính chủ quan của mình.Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở những khía cạnh sau:- Cùng nhận sự tác động của thế giới về một hiện thực khách quan nhưng ở những chủ thể khác nhau suất hiện những hình ảnh tâm lý với những mức độ, sắc thái khác nhau- Cũng có khi cùng một hiện thực khách quan tác động đến một chủ thể duy nhất nhưng vào những thời điểm khác nhau, ở những hoàn cảnh khác nhau với trạng thái cơ thể, thái tinh thần khác nhau, có thể cho ta thấy mức độ biểu hiện và các sắc thái tâm lý khác nhau ở chủ thể ấy.- Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện nổi rõ nhất. Cuối cùng, thông qua các mức độ và sắc thái tâm lý khác nhau mà mỗi chủ thể tỏ thái độ, hành vi khác nhau đối với hiện thực.Từ luận điểm nói trên, chúng ta có thể rút ra một số kết luận thực tiễn sau:- Tâm lý cũng còn gốc là thế giới khách quan, vì thế không nghiên cứu cũng như khi hình thành, cải tạo tâm lý người, nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và hoạt động.- Tâm lý người mang tính chủ thể, vì thế trong dạy học, giáo dục cũng như trong quan hệ ứng xử phải chú ý nguyên tắc sát đối tượng chú ý Đến cái riêng trong tâm lý mỗi người.- Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và các quan hệ giao tiếp để nghiên cứu, hình thành và phát triển tâm lý con ngườiBản chất xã hội của tâm lý ngườiTâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não phải là kinh nghiệm xã hội lịch sử biến thành cái riêng của mỗi người. Tâm lý con người khác xa với tâm lý của một số loài động vật cao cấp, biểu hiện là: tâm lý người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử.Bản chất xã hội và tính lịch sử của tâm lý thể hiện như sau:- Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan, trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định. Ngay cả quần tự nhiên trong thế giới cũng được xã hội hóa, phần xã hội và thế giới quyết định tâm lý người thể hiện qua: các quan hệ kinh tế xã hội, các mối quan hệ đạo đức pháp quyền, các mối quan hệ con người con người từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương cho đến các quan hệ nhóm, các quan hệ cộng đồng. Các mối quan hệ trên quyết định bản chất tâm lý người. Trên thực tế con người thoát ly khỏi các quan hệ xã hội, quan hệ người với người đều làm cho tâm lý mất bản tính người.- Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động giao tiếp của con người trong mối quan hệ xã hội. Con người là một thực thể tự nhiên và điều chủ yếu là một thực thể xã hội. Phần tự nhiên của con người được xã hội hóa ở mức cao nhất. Là một thực thể xã hội, con người là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động, giao tiếp với tư cách một chủ thể tích cực, chủ động sáng tạo, tâm lý của con người là sản phẩm của con người với tư cách là chủ thể xã hội. Vì thế, tâm lý người mang đầy đủ chuẩn xã hội lịch sử của con người.- Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội, thông qua hoạt động, giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của con người và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội có tính quyết định.- Tâm lý của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng. Tâm lý của mỗi con người chịu sự chế ước bởi lịch sử của cá nhân và cộng đồng.Tóm lại, tâm lý người có nguồn gốc xã hội, vì thế, môi trường xã hội, nền văn hóa xã hội, các quan hệ xã hội trong đó con người sống có hoạt động. Có phải từ chức hoạt động dạy học và giáo dục, cũng như không phải tội chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau điện thành, phát triển tâm lý con người.