1. Giới thiệu tác giả

Giáo trình Triết học (dùng trong đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ các ngành khoa học xã hội và nhân văn không chuyên ngành triết học) được biên soạn bởi các tác giả gồm: Nguyễn Văn Tài - Phạm Văn Sinh (Đồng chủ biên) - Nguyễn Tài Đông - Nguyễn Như Hải - Nguyễn Anh Tuấn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo Trình Triết Học (Dùng Trong Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ, Tiến Sĩ Các Ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Không Chuyên Ngành Triết Học)

Giáo trình Triết học (dùng trong đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ các ngành khoa học xã hội và nhân văn không chuyên ngành triết học)

Tác giả: Nguyễn Văn Tài - Phạm Văn Sinh (Đồng chủ biên)

Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

 

3. Tổng quan nội dung sách

Thực hiện thông tư số 08/2013/TT-BGDĐ ngày 08/03/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo về việc ban hành chương trình môn Triết học khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ Tiến Sĩ;  căn cứ quyết định số 2511/QĐ-BGDĐT ngày 18/07/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt giáo trình môn Triết học của trường không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo sản xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản giáo trình triết học để phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành Khoa học Xã hội  và Nhân văn không thuộc chuyên ngành triết học.

Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1. Khái niệm về triết học

1. Triết học và các vấn đề cơ bản của triết học

2. Sự hình thành phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử

3. Triết học Mác – Lênin và vai trò của nó trong đời sống xã hội

4. Sự kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin trong thực tiễn cách mạng Việt Nam

Chương 2. Bản thể luận

1. Khái niệm “bản thể luận” và nội dung bản thể luận trong lịch sử triết học

2. Nội dung bản thể luận của triết học Mác – Lênin

3. Mối liên hệ giữa khách quan và chủ quan

Chương 3. Phép biện chứng

1. Khái niệm “biện chứng” và khái quát lịch sử phép biện chứng

2. Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật

3. Những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng trong quá trình đổi mới ở Việt Nam

Chương 4. Nhận thức luận

1. Một số vấn đề nhận thức cơ bản của nhận thức luận

2. Nhận thức luận duy vật biện chứng

3. Các hình thức, phương pháp nhận thức khoa học và đặc thù của nhận thức xã hội

4. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn và thực tiễn và sự vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Chương 5. Học thuyết hình thành kinh tế – xã hội

1. Phương pháp tiếp cận duy vật và duy tâm về xã hội

2. Những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội

3. Giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội và sự nhận thức về con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chương 6. Triết học chính trị

1. Quan điểm về chính trị trong lịch sử triết học

2. Các phương diện cơ bản về chính trị trong đời sống xã hội

3. Vấn đề đổi  mới chính trị ở Việt Nam hiện nay

Chương 7. Ý thức xã hội

1. Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội và các hình thái ý thức xã hội

2. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

Chương 8. Triết học về con người

1. Khái lược các quan điểm triết học về con người trong lịch sử

2. Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người

3. Vấn đề con người trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

4. Vấn đề phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

 

4. Đánh giá bạn đọc

Nội dung của giáo trình triết học được biên soạn theo hướng cập nhật kiến thức mới, phát huy tính tích cực, chủ, liên hệ với thực tiễn của người Học các chuyên ngành Xã hội và Nhân văn. Nội dung trong cuốn giáo trình nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các viện nghiên cứu và Đào tạo triết học các trường đại học, học viện, các nhà khoa học và đặc biệt là giáo sư tiến sĩ Hoàng Chí Bảo giáo sư tiến sĩ Trần Phúc Khang phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Viết thông tiến sĩ trong Văn Thịnh phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Bá Dương Tiến sĩ Lê Ngọc Hồng Tiến sĩ Nguyễn Bá Cường… 

Giáo trình này còn là tài liệu cần thiết cho giảng viên các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng chuyên ngành lý luận chính trị và các độc giả quan tâm. 

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn "Giáo trình Triết học (dùng trong đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ các ngành khoa học xã hội và nhân văn không chuyên ngành triết học)".

Quan niệm về bản thể luận trong triết học Mác-Lênin
Bản thể luận được hiểu là lý luận về bản thể, lý luận về nguồn gốc, về tồn tại hay bản thể luận là quan niệm về thế giới, nó bàn tới tất cả những gì đang tồn tại trong thế giới khách quan ở bản thân nó, và nó tồn tại theo tính quy luật của nó.
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một thực thể ban đầu nào đó là coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, xong quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, thời kỳ này thì các nhà triết học đã đồng nhất vật chất với thuộc tính của vật chất. Chỉ đến triết học Mác-Lênin mới có thể giải quyết triệt để những hạn chế theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng ra đời vào những năm 40 của thế kỷ 19 với sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tư cách một lực lượng chính trị xã hội độc lập đấu tranh lại giai cấp tư sản vì dân chủ và tiến bộ xã hội. Thực hiện cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu khác nhất cho sự ra đời của triết học Mác.
Về cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong triết học Mác-Lênin là:
- Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức của con người;
- Hai là, mỗi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất;
- Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận. Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
...

Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin là các quy luật cơ bản trong phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và được áp dụng để giải thích về sự phát triển của sư vật, hiện tượng, ba quy luật này hợp thành nguyên lý về sự phát triển. Ba quy luật cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin, nó là một trong những nền tảng, cơ bản cấu thành phép biện chứng duy vật cũng như một trong những nội dung quan trọng của toàn bộ triết học Mác-Lenin.

Nội dung

Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thể hiện qua sáu cặp phạm trù được sử dụng là Cái chung và cái riêng, Bản chất và hiện tượng, Nội dung và hình thức, Tất nhiên và ngẫu nhiên, Nguyên nhân và kết quả, Khả năng và hiện thực.

Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng - chất và quy luật phủ định. Trong đó:

- Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển

- Quy luật lượng - chất chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển

- Quy luật phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.

Ba quy luật cơ bản này còn có ý nghĩa trong nhận thức và hành động. Những kết luận về mặt phương pháp luận của nó luôn được coi là "kim chỉ nam" cho hoạt động cách mạng của những người Cộng sản.

Theo Các Mác: Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giao điếu của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái đang tồn tại, phép biện chứng cũng bao hàm cả quan niệm, sự phủ định cái đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó, vì mỗi hình thái đều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức xét cả mặt nhất thời của hình thái đó;… vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng.

Ý nghĩa:

Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ ra hình thức chung nhất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó, đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của tư duy biện chứng. Vì vậy đây là nền tảng cho sự phát triển của sự vật hiện tượng sau này.

Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức và tính chất của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra.

Các quy luật này định hướng cho việc nghiên cứu của những quy luật đặc thù và đến lượt mình, những quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới, của nhận thức và những hình thức cụ thể của chúng chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với những quy luật đặc thù.

Theo triết học Mác-Lênin thì mối quan hệ qua lại giữa các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật với các quy luật đặc thù của các khoa học chuyên ngành tạo nên cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với các khoa học chuyên ngành.