Trả lời:

* Khẳng định đúng. Bởi vì:

Điều 126 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào giết người... hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm”.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết về tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng về chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội: người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Đối với hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

Nếu gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự. 

Cấu thành tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, bao gồm:

+ Khách thể của tội phạm: Giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ tội phạm là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức hoặc bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác và có sự chống trả lại được biểu hiện là vượt quá mức cần thiết làm cho người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích đó chết hoặc hành vi của người bị bắt giữ người phạm tội áp dụng các biện pháp vượt quá mức cần thiết làm cho người bị bắt giữ chết.

+ Mặt khách quan: Hành vi của người thực hiện hành vi vi phạm tội đã gây thiệt hại đến tính mạng của người đó do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết. 

Việc xác định hành vi có phải là hành vi phạm tội giết người do vượt quá mức cần thiết hay không thì cần phải xác định đến là hành vi của người bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội, mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết để gây thiệt hại cho người bị bắt giữ nhưng trong quá trình thực hiện hành vi bắt giữ người phạm tội thì có sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết để gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.

+ Chủ thể: Chủ thể của tội giết người do vượt quá mức cần thiết là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với: tội cưỡng dâm, tội mua bán người, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội sản xuất trái phép ma túy, tội tàng trữ trái phép chất ma túy,...nhưng trong đó không có tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, họ có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi.

Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 111, Điều 112 và Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và sau đó giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

Do đó, chủ thể của tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự mà không phân biệt họ có thẩm quyền hay không có thẩm quyền khi bắt giữ người phạm tội.

+ Mặt chủ quan: 

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Lỗi cố ý bao gồm: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.

(1) Lỗi cố ý trực tiếp là người thực hiện hành vi phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi mà mình gây ra, nhận thấy trước được khả năng hoặc tất nhiên sẽ xảy ra hậu quả xấu do chính hành vi phạm tội đó gây ra và mong muốn rằng hậu quả xấu đó xảy ra.

(2) Lỗi cố ý gián tiếp là người thực hiện hành vi phạm tội có thể nhìn thấy trước tính chất nguy hiểm của hành vi của mình, nhận thức trước được khả năng xảy ra hậu quả xấu do hành vi trái pháp luật của mình; mặc dù họ không mong muốn rằng hậu quả xấu đó xảy ra nhưng đã có ý thức để cho hậu quả đó xảy ra.

Động cơ phạm tội là nhân tố bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý, mà động cơ phạm tội chỉ có trong những trường hợp phạm tội cố ý vì đối với những tội phạm về lỗi vô ý thì người phạm tội không mong muốn thực hiện hành vi phạm tội nên người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không có động cơ phạm tội thúc đẩy, những tội phạm do lỗi vô ý có thể có động cơ hành động chứ không thể có động cơ phạm tội. Một số trường hợp thì động cơ phạm tội được quy định là dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản. Còn một số trường hợp khác thì động cơ phạm tội được xem dấu hiệu định khung hình phạt trong các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Ngoài ra, động cơ phạm tội có thể là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ví dụ như: Điểm d khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội".

Động cơ phạm tội giết người trong trường hợp do vượt quá mức cần thiết là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức hoặc bảo vệ lợi ích hợp pháp của bản thân, của người khác.

Giết người trong trường hợp do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nhưng để cấu thành tội giết người do vượt quá mức cần thiết thì phải thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội phạm này về khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.

Trên đây là nội dung bài viết mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến bạn đọc. Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê qua số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn!.