1.Giới thiệu

Một trong những thách thức mà người hoạt động trong lĩnh vực logistics phải đối mặt khi quản lí sự dịch chuyển của dòng hàng hoá, dịch vụ và thông tin liên quan giữa các nước, hay còn gọi là quản lí logistics quốc tế, là hệ thống pháp luật. Khi một hoạt động logistics vượt qua biên giới một quốc gia, nó không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi dòng logistics xuất phát, mà nó còn có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật tại các nước liên quan (ví dụ, nước đến hay nước quá cảnh), hoặc pháp luật quốc tế. Do hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh logistics và các dịch vụ liên quan đến logistics quá rộng, Mục này chỉ tập trung vào một số quy định pháp luật quốc tế phổ biến mà những người hoạt động trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam cần biết. Trong khi pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics và các dịch vụ liên quan phụ thuộc vào nội hàm của khái niệm logistics, thì định nghĩa logistics vẫn còn nhiều điểm không thống nhất. Vì vậy, việc điểm qua các quan điểm phổ biến về logistics là điều cần thiết. Mục này được chia thành 4 nội dung: (i) Giới thiệu; (ii) Các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm logistics và hoạt động logistics; (iii) Giới thiệu tổng quan pháp luật điều chỉnh logistics quốc tế; và (iv) Kết luận.

2.Khái niệm chung về logistics

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về logistics và nội hàm của khái niệm này cũng có nhiều điểm còn tranh cãi. Ví dụ, theo Johnson và Wood,logistics là một bộ phận chức năng chịu trách nhiệm về dòng vật chất đi vào, dịch chuyển bên trong và ra khỏi một tổ chức. Tuy nhiên, theo Wood, logistics còn bao gồm cả dòng dịch vụ và nhân sự. Theo Lummus,quá trình logistics bắt đầu từ người cung cấp trực tiếp đến người tiêu dùng trực tiếp của một doanh nghiệp, trong khi đó theo Waters thì quá trình này có thể bao gồm nhiều cấp người cung ứng và tiêu dùng, thậm chí có thể mở rộng từ người cung ứng đầu tiên cho đến người tiêu dùng cuối cùng của chuỗi cung ứng. Cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hai khái niệm ‘logistics’ và ‘quản lí chuỗi cung ứng’. Waters và Ballou cho rằng logistics và quản lí chuỗi cung ứng là hai thuật ngữ mô tả cùng một khái niệm. Tuy nhiên, Hội đồng các nhà quản lí chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (Council of Supply Chain Management Professionals) và Mentzer lại phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này, theo đó logistics là một khái niệm hẹp hơn, chỉ là một phần của quản lí chuỗi cung ứng. Do sự thiếu thống nhất trong định nghĩa logistics, người đọc có thể sẽ gặp khó khăn trong việc tìm hiểu khái niệm logistics và các chủ đề liên quan, ví dụ như luật điều chỉnh logistics quốc tế. Vì vậy, trước khi đi vào chủ đề chính của phần này, chúng ta cần phải phân loại các khái niệm về logistics

3.Định nghĩa logistics

Theo quan điểm thứ nhất, logistics là một bộ phận chức năng trực thuộc một doanh nghiệp quản lí dòng dịch chuyển và bảo quản một số đối tượng bắt đầu từ người cung ứng trực tiếp và kết thúc ở người tiêu dùng trực tiếp của doanh nghiệp đó. Một số đối tượng của dòng logistics bao gồm: Sản phẩm vật chất ; Sản phẩm vật chất và thông tin; Sản phẩm vật chất và dịch vụ; Hàng hoá, dịch vụ và con người; Hàng hoá, dịch vụ và thông tin liên quan. Nói một cách đơn giản, theo quan điểm này, dòng logistics bắt đầu từ người cung ứng trực tiếp đến người tiêu dùng trực tiếp, và đó có thể là dòng hàng hoá, dịch vụ, thông tin liên quan và đôi khi là cả con người. Theo quan điểm thứ hai, logistics có phạm vi rộng hơn, trải dài cả kênh marketing hay chuỗi cung ứng chứ không phải chỉ giới hạn trong phạm vi từ người cung ứng trực tiếp đến người tiêu dùng trực tiếp. Theo Bowersox, quan điểm này là sự phát triển quan trọng nhất trong tư duy logistics. Chính vì vậy, Waters và Ballou  coi khái niệm logistics và quản lí chuỗi cung ứng là giống nhau. Tuy nhiên, theo Hội đồng các nhà quản lí chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (Council of Supply Chain Management Professionals) và Mentzer, quản lí chuỗi cung ứng khác với logistics. Quản lí chuỗi cung ứng là việc quản lí dòng hàng hoá, dịch vụ, thông tin và tài chính cũng như các quá trình có liên quan đến các dòng này, ví dụ: mua bán, sản xuất, tiếp thị, dịch vụ sau bán hàng, nhân sự và hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng. Như vậy, quản lí chuỗi cung ứng là khái niệm rộng hơn logistics rất nhiều, cả về nội hàm lẫn phạm vi. Quản lí chuỗi cung ứng bao gồm cả những yếu tố không có trong khái niệm logistics, ví dụ: các quá trình và thông tin không liên quan đến việc dịch chuyển và bảo quản hàng hoá và dịch vụ. Thêm nữa, quản lí chuỗi cung ứng trải dài cả chuỗi cung ứng41 chứ không chỉ giữa người cung ứng trực tiếp và khách hàng trực tiếp của một doanh nghiệp nào đó. Vì vậy, Hội đồng các quản lí chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (Council of Supply Chain Management Professionals (2011) coi logistics là một bộ phận của quản lí chuỗi cung ứng. Tuy Hội đồng các nhà quản lí chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (Council of Supply Chain Management Professionals) và Mentzer đã phân biệt rõ ràng hai khái niệm quản lí chuỗi cung ứng và logistics, nhưng vì logistics tương tác chặt chẽ với khái niệm quản lí chuỗi cung ứng (ví dụ: sản xuất, tiếp thị và kế toán), nên trên thực tế vẫn có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Ví dụ, rất khó có thể phân biệt rạch ròi thông tin logistics (là các thông tiên liên quan đến sự dịch chuyển, bảo quản hàng hoá và dịch vụ) với các thông tin khác. Thêm nữa, việc phân biệt trách nhiệm của bộ phận logistics và bộ phận sản xuất trong việc quản lí dòng nguyên liệu và bán thành phẩm trong quá trình sản xuất cũng không hề đơn giản. Vì vậy, Arlbjorn và Halldorsson  đã đưa ra một cách định nghĩa logistics khác, trong đó sử dụng khái niệm ‘hạt nhân’ và ‘vành đai bảo vệ’ của Lakatos. Thuật ngữ ‘hạt nhân’ dùng để mô tả bản chất của vấn đề nào đó và bản chất này không thay đổi trong khi ‘vành đai bảo vệ’ bao gồm tất cả những gì có thể giúp hiểu thêm về ‘hạt nhân’. Hạt nhân của logistics ‘hướng tới dòng nguyên liệu, thông tin và dịch vụ, theo chiều dọc hoặc chiều ngang của chuỗi giá trị (hay còn gọi là chuỗi cung ứng), nhằm liên kết các dòng này và có nền tảng là tư duy hệ thống (cách nhìn tổng thể), và đơn vị phân tích là dòng’. ‘Vành đai bảo vệ’ của logistics có thể mở rộng, dường như là không có giới hạn, bao gồm tất cả mọi thứ có liên quan đến logistics. Ví dụ, đó có thể là vấn đề về động lực (một khái niệm trong học thuyết về tổ chức), nếu khái niệm này được áp dụng trong logistics. Điều đó có nghĩa là ‘vành đai bảo vệ’ của logistics có thể vô cùng lớn. Trong Mục này, định nghĩa logistics của Hội đồng các nhà quản lí chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (Council of Supply Chain Management Professionals) được sử dụng, theo đó: Quản lí logistics là một bộ phận của quản lí chuỗi cung ứng, có chức năng lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dịch chuyển (xuôi hoặc ngược) và bảo quản hàng hoá, dịch vụ và thông tin có liên quan từ điểm bắt đầu đến điểm tiêu dùng thoả mãn yêu cầu của khách hàng.

4. Các hoạt động logistics

Về bản chất, logistics là quá trình liên kết nhiều hoạt động khác nhau nhằm đạt được sự dịch chuyển và bảo quản hàng hoá, dịch vụ và thông tin liên quan một cách hiệu quả nhất. Vì vậy, chúng ta có thể xác định được các hoạt động logistics bằng cách bám theo các dòng logistics. Hàng hoá tạo ra các dòng vật chất bên trong và giữa các tổ chức. Đối với sản phẩm hữu hình, có khoảng cách về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Hàng hoá có thể lưu kho, lưu bãi và vận chuyển từ nơi cung ứng đến nơi có nhu cầu. Do vậy, việc quản lí dòng sản phẩm hữu hình sẽ bao gồm các hoạt động như xử lí đơn hàng, vận tải, lưu kho, bảo quản, xử lí nguyên liệu, bao gói bao bì Sản phẩm vật chất là hữu hình, còn dịch vụ thì vô hình. Đối với dịch vụ, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc. Khi quá trình sản xuất bắt đầu, quá trình tiêu dùng cũng bắt đầu. Dịch vụ sẽ được tiêu dùng hết khi quá trình sản xuất kết thúc. Đối với dịch vụ, không có khoảng cách không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì vậy trong quản lí dịch vụ, không có một số khái niệm giống như trong ngành sản xuất. Việc quản lí ‘sự dịch chuyển và bảo quản dịch vụ’ đòi hỏi những công việc hoàn toàn khác so với việc quản lí dòng sản phẩm hữu hình. Đối với dịch vụ, không phải là vận tải, lưu kho lưu bãi, xử lí nguyên vật liệu hay bao bì đóng gói. Để cung ứng dịch vụ cho khách hàng, người cung ứng dịch vụ phải quản lí khả năng cung ứng dịch vụ  và điều phối việc cung ứng dịch vụ.  Quản lí khả năng cung ứng dịch vụ bao gồm nhiều việc như dự đoán nhu cầu và xác định công suất cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó. Quản lí khả năng cung ứng dịch vụ nhằm ‘đảm bảo đủ công suất khi nhu cầu đạt đỉnh và giảm thiểu công suất khi cần thiết’. Ngược lại, quản lí cầu đòi hỏi ‘điều chỉnh thời điểm phát sinh nhu cầu sao cho “giảm bớt” nhu cầu lúc cao điểm, và chuyển sang lúc nhàn rỗi khi công suất cung ứng dịch vụ dư thừa’. Trong quản lí cung cầu, luôn nhớ rằng công suất quá nhiều sẽ làm tăng chi phí, trong khi thiếu công suất sẽ mất khách hàng. Tuy nhiên, các quyết định dài hạn liên quan đến việc quản lí khả năng cung cấp dịch vụ, ví dụ như việc thành lập chi nhánh mới, là vấn đề của các nhà quản lí cấp cao chứ không chỉ do bộ phận logistics quyết định. Tất nhiên, việc ra những quyết định dài hạn như vậy cũng một phần dựa trên những thông tin và ý kiến của các giám đốc logistics. Điều phối việc cung ứng dịch vụ cũng là một trong những hoạt động cơ bản của quản lí logistics trong ngành dịch vụ. Công việc này bao gồm lên kế hoạch một cách linh hoạt, thực hiện việc cung ứng dịch vụ và thu thập ý kiến phản hồi. Mục tiêu chính của việc này là để đảm bảo cho các bộ phận trong công ty phối hợp chặt chẽ với nhau, nhằm cung ứng dịch vụ chất lượng tốt.Gắn liền với việc quản lí dòng hàng hoá và dịch vụ là quản lí thông tin logistics. Thông tin logistics cho biết chính xác địa điểm phát sinh cung cầu trong hệ thống logistics. Để hoạt động logistics hiệu quả, thông tin logistics phải chính xác, kịp thời với giá cả hợp lí. Quản lí thông tin logistics thực chất là một bộ phận cấu thành của việc quản lí dòng hàng hoá và dịch vụ. Công việc quản lí thông tin logistics phổ biến nhất cho đến nay là áp dụng công nghệ thông tin (ví dụ: Internet và các phần mềm khác nhau) trong quản lí thông tin trong chuỗi cung ứng. Có thể thấy, logistics là quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Vì thế, logistics cũng chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật trong các lĩnh vực tương ứng như vận tải, kho bãi, bao bì, xếp dỡ hàng hoá, môi giới dịch vụ (ví dụ, giao nhận), bảo hiểm, thương mại và kinh doanh, cạnh tranh, đầu tư và doanh nghiệp. Thêm nữa, pháp luật trong mỗi lĩnh vực lại có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm cấp độ quốc gia, cấp độ song phương, cấp độ khu vực/tiểu khu vực và cấp độ toàn cầu. Riêng các quy định pháp luật ở cấp độ toàn cầu trong lĩnh vực logistics cũng rất rộng. Ví dụ, luật trong lĩnh vực hàng hải được chia thành nhiều nhóm, bao gồm: Trọng tài và thủ tục tố tụng, bắt giữ, chuyên chở hàng hoá và hành khách, tổn thất chung, luật biển, cầm cố, giới hạn trách nhiệm, ô nhiễm và môi trường, an toàn hàng hải, cứu hộ cứu nạn, người đi biển và thủ tục hải quan. Trong mỗi nhóm lại có nhiều luật cụ thể khác nhau. Ví dụ, một số công ước quốc tế thuộc nhóm ‘trọng tài và thủ tục tố tụng’ như sau: Công ước về việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài 1958; Công ước La Hay 1971 về công nhận và thi hành phán quyết của toà án nước ngoài về các vấn đề dân sự và thương mại; Công ước La Hay 1970 về việc xem xét bằng chứng nước ngoài trong những vấn đề dân sự và thương mại. Do hệ thống luật pháp quốc tế liên quan đến logistics quá rộng, nội dung tiếp theo chỉ tập trung giới thiệu: (A) Một số công ước phổ biến ở cấp độ toàn cầu liên quan đến vận tải hàng hoá; và (B) Một số hiệp định ASEAN trong lĩnh vực vận tải mà các nhà hoạt động logistics tại Việt Nam cần biết.

5.Các hoạt động chính trong Logistics

 Manufacturing - Sản xuất hàng hóa: Quản lý sản xuất hàng hóa trong các nhà máy theo đúng tiêu chuẩn chất lượng của đơn đặt hàng.

- Packaging - Đóng gói hàng hóa: Đóng gói thành phẩm vào bao bì, hộp carton để bảo vệ hàng hóa và thuận tiện cho quá trình vận chuyển.

- Inventory management - Quản lý hàng tồn kho: Quản lý và đảm bảo số lượng và chất lượng hàng tồn trong kho, tiến hành nhập xuất hàng hóa theo kế hoạch.

- Transportation, Cargo, Delivery, Freight - Vận chuyển hàng hóa: từ kho của nhà sản xuất tới nơi tiêu thụ.

- Warehousing, Storage - Lưu kho, lưu bãi hàng hóa: tại kho, bãi trong khi chờ làm thủ tục xuất nhập hàng hóa.

- Handling - Xếp dỡ hàng hóa: Xếp dỡ vào container hoặc bốc xếp thẳng lên xe tải, tàu hỏa, tàu thủy hay máy bay để vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

- Forwarding - Giải quyết các thủ tục và giấy tờ cần thiết liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa.

- Custom Declaration - Khai báo hải quan: Khai báo các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật, nộp thuế và các lệ phí khác.

- Inspection - Kiểm duyệt hàng hóa: Tiến hàng kiểm tra để đảm báo số lượng và chất lượng của hàng hóa không vi phạm các quy định của nhà nước.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)