1. Một số mạng lưới logistics phổ biến trên thế giới và mức phí tham gia?

WCA (World Cargo Alliance), www.wcaworld.com, là mạng lưới logistics lớn nhất thế giới, được thành lập vào năm 1998. Hiện tại mạng lưới này có hơn 6.000 hội viên tại hơn 195 nước. Việt Nam là một trong các nước sáng lập của mạng lưới WCA từ năm 1998, hiện có hơn 100 công ty Việt Nam với 150 chi nhánh là hội viên của mạng lưới này.

Thành lập vào năm 1998, Atlas International Network, www.atlasnetwork.com, là một mạng lưới logistics toàn cầu theo kiểu đại diện độc quyền. Mạng lưới này có thành viên là các doanh nghiệp giao nhận, OTI/ NVOCCs và các nhà cung cấp dịch vụ logistics có liên quan. Atlas đang hoạt động trên 5 châu lục, bằng đường hàng không và đường biển, hiện có hơn 240 công ty / chi nhánh tại hơn 100 nước. Bên cạnh các mạng lưới logistics theo chiều rộng, có các mạng lưới logistics chuyên ngành, ví dụ trong WCA có các mạng lưới nhỏ như WCA Perishables (tập hợp các doanh nghiệp giao nhận hàng mau hỏng), WCA Dangerous Goods (hàng nguy hiểm), WCA Time Critical (hàng giao gấp), WCA Vendors (phục vụ các nhà cung cấp), WCA Pharma (dược phẩm), WCA eCommerce (thương mại điện tử). Mức phí thông thường để tham gia các mạng lưới logistics quốc tế vào khoảng 2.000 - 3.000 đô la Mỹ / năm cộng thêm chi phí bảo đảm thanh toán 500 đô la cho văn phòng chính. Cá biệt có một số mạng lưới mới thành lập tính chi phí thấp hơn, từ 500 - 1.000 đô la Mỹ / năm. Một số mạng lưới và website của họ được liệt kê dưới đây:

• Atlas Family Logistics Network (ALFA): www.alfalogisticsnetwork. Com

 • Cargo Partners Network: www.cargopartnersnetwork.com

 • Certified Transportation Network: www.ctngroup.com

• Combined Logistics Networks: www.combinedlogisticsnetworks.com

 • Global Logistics Network: www.go2gln.com

• IFLN Network: www.ifln.net

 • Security Cargo Network: www.securitycargonetowork.com

• Global Project Logistics Network (GPLN): www.gpln.net

 • CLC Projects Network: www.clcprojects.com

 

2. Thế nào là cơ chế tạm quản?

Trong thực tiễn thương mại quốc tế, bên cạnh hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu còn có những hình thức hàng hóa di chuyển qua biên giới, nhưng không phục vụ mục đích kinh doanh, ví dụ hàng hóa tạm xuất khẩu ra nước ngoài để tham gia hội chợ, triển lãm, biểu diễn rồi lại đem về nước, hoặc thiết bị của nước ngoài đưa vào phục vụ đào tạo, tập huấn, nghiên cứu rồi lại đưa trở ra. Cơ chế tạm quản là cơ chế của cơ quan hải quan áp dụng để quản lý các loại hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập giữa các quốc gia với mục đích tạo thuận lợi về mặt thủ tục cho các loại hàng hóa này. Theo đó, đơn vị, tổ chức có hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập không phải làm thủ tục hải quan thông thường mà sử dụng một sổ tạm quản để làm thủ tục đưa hàng hóa vào, ra khỏi một nước. Để tạo thuận lợi cho hàng hóa trong diện tạm quản, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đã thúc đẩy các nước ký Công ước Istanbul ngày 26/6/1990, có hiệu lực từ ngày 27/11/1993 để hài hòa hoá thủ tục hải quan giữa các nước đối với hàng hóa tạm quản. Tính đến tháng 1/2017, đã có 70 nước, vùng lãnh thổ thực hiện cơ chế tạm quản theo Công ước. Theo Công ước, cơ chế tạm quản vận hành dựa trên hệ thống sổ tạm quản (ATA carnet), là một bộ chứng từ hải quan duy nhất được quốc tế công nhận dùng để thay thế tờ khai hải quan áp dụng đối với hàng hóa đi lại theo chế độ tạm quản giữa các thành viên của Công ước Istanbul.

Cơ chế tạm quản cho phép giảm tối đa các thủ tục liên quan khi xuất nhập khẩu (khai báo, nộp, hoàn thuế, xử lý giấy phép) vì các yêu cầu này đã được thực hiện từ trước tại quốc gia của chủ hàng thông qua việc sử dụng sổ tạm quản. Sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý, Chính phủ Việt Nam đang tiến hành các thủ tục để gia nhập Công ước này.

 

3. Quá trình hình thành ngành logistics ở Việt Nam diễn ra như thế nào?

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt tay vào xây dựng nền kinh tế mới. Chính phủ khi đó đã quan tâm đến giao thương, lưu thông hàng hóa. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các hoạt động vận tải, giao nhận, hậu cần, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự đã phát triển khá mạnh. Những chiếc xe đạp thồ đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên. Binh đoàn 559 và con đường Hồ Chí Minh xuyên qua rặng Trường Sơn là một yếu tố đóng góp quyết định vào thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ. Trong những năm kháng chiến, hoạt động ngoại thương với các nước cũng đã hình thành. Đến trước năm 1975, Miền Bắc đã có quan hệ thương mại với nhiều nước, trong đó có những điểm đầu cầu quan trọng thông thương với các nước ngoài khối XHCN như Singapore, Hong Kong. Miền Nam cũng có quan hệ thương mại với nhiều nước trong khu vực ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Tuy nhiên, hoạt động logistics thực sự được quan tâm và phát triển chỉ từ sau khi Việt Nam thống nhất, thực hiện chính sách Đổi Mới, mở cửa nền kinh tế. Cùng với việc tăng cường trao đổi, mua bán hàng hóa với nước ngoài, nhận thức và hiểu biết về logistics, vai trò của logistics được tăng lên, một số doanh nghiệp hình thành chuyên để cung cấp dịch vụ logistics. Năm 1993, Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam được chính thức thành lập, là tiền thân của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam sau này.

Năm 2005, Luật Thương mại được ban hành chính thức nêu định nghĩa về logistics và đưa ra một số chế định về dịch vụ logistics. Nghị định 140/2007/NĐ-CP ban hành năm 2007 thể chế hóa các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường đối với dịch vụ logistics. Ngày 14/2/2017, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 200/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với một lĩnh vực rất quan trọng của nền kinh tế. Ngày 30/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định 163/2017/NĐ-CP thay thế Nghị định 140/2007/NĐ-CP, trong đó đưa ra phân loại dịch vụ logistics, điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

 

4. Kế hoạch hành động về nâng cao năng lực cạnh tranh và PT DV logistics?

Dịch vụ logistics đã hình thành và phát triển ở Việt Nam với một quãng thời gian không ngắn, tuy nhiên vẫn chỉ phát triển một cách tự phát, chưa có định hướng rõ ràng, thiếu sự quan tâm hỗ trợ từ Nhà nước và các thành phần khác trong xã hội. Sự phát triển như vậy mặc dù có tốc độ tăng trưởng cao nhưng không mang tính bền vững, không đạt hiệu quả như mong muốn. Hệ quả là ngành dịch vụ logistics còn tồn tại rất nhiều bất cập, điểm yếu làm cản trở sự phát triển của toàn ngành nói chung và các doanh nghiệp dịch vụ logistics nói riêng. Việc xây dựng Kế hoạch hành động nhằm giúp chỉ ra những công việc cấp bách cần triển khai để khắc phục các bất cập và điểm yếu nhắc đến ở trên, tạo định hướng phát triển đúng đắn, hỗ trợ các doanh nghiệp dịch vụ logistics phát triển trên cơ sở hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp dịch vụ logistics với doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Một Kế hoạch hành động bám sát thực tế, có mục tiêu cụ thể và được triển khai nghiêm túc sẽ không chỉ giúp cải thiện năng lực cạnh tranh của dịch vụ logistics Việt Nam trong thời gian tới, mà còn giúp cho ngành logistics phát triển bền vững, giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ những sự cố không mong muốn và phản ứng nhanh với các sự cố trong chuỗi cung ứng, đưa Việt Nam trở thành một điểm đến không chỉ hấp dẫn với chi phí lao động cạnh tranh hay thị trường rộng lớn mà còn là nơi có hoạt động thương mại thuận lợi. Đây là bước đi quan trọng cho việc đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics của nước ta trong thời gian tới, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra.

 

5. Quan điểm của ngành logistics trong những năm sắp tới là như thế nào?

Kế hoạch hành động về logistics đưa ra quan điểm phát triển ngành logistics trong những năm sắp tới như sau:

1. Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

2. Phát triển dịch vụ logistics thành một ngành dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cao, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, phát triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin.

3. Phát triển thị trường dịch vụ logistics lành mạnh, tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

 4. Phát huy tối đa lợi thế vị trí địa lý chiến lược, tăng cường kết nối để đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics quan trọng trong khu vực.

5. Tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cả về số lượng, quy mô, trình độ nhân lực, có năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế.

6. Nhà nước đảm nhiệm vai trò hỗ trợ, kiến tạo môi trường thuận lợi cho nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.

 

6. Mục tiêu của ngành logistics trong những năm sắp tới là như thế nào?

Kế hoạch hành động về logistics đưa ra mục tiêu phát triển ngành logistics trong những năm sắp tới như sau:

 1. Đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số LPI trên thế giới đạt thứ 50 trở lên.

2. Tập trung thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics cấp khu vực và quốc tế, nâng cao hiệu quả kết nối giữa Việt Nam với các nước. Đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics của khu vực.

3. Hình thành các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp dịch vụ logistics theo phương châm hiện đại, chuyên nghiệp.

 4. Doanh nghiệp sản xuất, thương mại quản lý tốt chuỗi cung ứng, tiết kiệm nguyên vật liệu và chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa.

 5. Ứng dụng các công nghệ mới trong logistics, đào tạo nhân lực chuyên nghiệp, trình độ cao về logistics, góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, tái cấu trúc hoạt động sản xuất, thương mại của doanh nghiệp.

6. Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước, bao gồm các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics, pháp luật điều chỉnh ngành, bộ máy quản lý tương xứng với trình độ phát triển của dịch vụ logistics của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)