1. Mở đầu vấn đề

Sự dễ dàng vượt qua biên giới của những sáng tạo trí tuệ có nghĩa là hầu hết những người nắm quyền sở hữu trí tuệ đều quan tâm bảo vệ quyền của mình không phải chỉ ở một nước.  Công ước Berne năm 1886 về Bảo hộ Tác phẩm Nghệ thuật và Văn học, cơ sở của sự bảo hộ quốc tế cũng như Công ước Pari năm 1883 về Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp nêu ra nguyên tắc đối xử quốc gia, nghĩa là công dân của những nước khác phải chấp nhận một sự đối xử như nhau trong mỗi một nước như áp dụng cho công dân nước mình, không kê đến sự có đi có lại. Ngày nay những nguyên tắc này vẫn còn là cơ sở cho sự bảo hộ quốc tế đối với quyền sở hữu trí tuệ.

Trong bài viết này ta sẽ giới thiệu chung về Công ước Beme năm 1886 về Bảo hộ Tác phẩm Nghệ thuật và Văn học, cơ sở của sự bảo hộ quốc tế.

 

2. Giới thiệu  Công ước Berne năm 1886 

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, còn được gọi ngắn gọn là Công ước Berne (Công ước Bơn hay Công ước Béc-nơ), được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, lần đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền. Nó được hình thành sau các nỗ lực vận động của Victor Hugo. Trước khi có công ước Bern, các quốc gia thường từ chối quyền tác giả của các tác phẩm ngoại quốc.

Ví dụ, một tác phẩm xuất bản ở một quốc gia được bảo vệ quyền tác giả tại đó, nhưng lại có thể bị sao chép và xuất bản tự do không cần xin phép tại quốc gia khác.

Các quốc gia tuân thủ công ước Bern công nhận quyền tác giả của các tác phẩm xuất bản tại các quốc gia khác cùng tuân thủ công ước này. Quyền tác giả, theo công ước Berne là tự động: không cần phải đăng ký tác quyền, không cần phải viết trong thông báo tác quyền. Ngoài ra, những quốc gia ký công ước Berne không được đặt ra các thủ tục hành chính sách nhiễu các tác giả trong việc thụ hưởng tác quyền. (Các quốc gia ký công ước Bern vẫn có quyền áp đặt các luật lệ riêng cho các tác giả trong nước họ hoặc từ những nước không ký công ước này).

Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó. Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ công ước được phép nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn, như Cộng đồng châu Âu đã làm năm 1993. Hoa Kỳ cũng gia hạn tác quyền, như trong Đạo luật Kéo dài Bản quyền Sonny Bono năm 1998.

Một số nước tuân thủ phiên bản cũ của công ước Bern cho phép tác giả được hưởng suốt đời cộng 70 năm. Thời hạn này có thể giảm đối với một số loại tác phẩm nghệ thuật (như điện ảnh) hoặc đối với các tác phẩm là công trình của một cơ quan thì thời hạn tác quyền là 95 năm sau lần xuất bản đầu tiên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2004, chính phủ Việt Nam đã nộp văn kiện gia nhập Công ước Berne. Trong văn kiện này, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố bảo lưu các quy định tại Điều 33(1) của Công ước Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công ước Berne. Công ước Berne có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2004.

Công ước Berne đã được sửa chữa một số lần, đó là: Berlin (1908), Roma (1928), Brussels (1948), Stockholm (1967) và Paris (1971).

Từ năm 1967, Công ước Berne được quản lý bởi Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO).

Gần như tất cả các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tuân thủ hầu hết các điều khoản của công ước này, theo thỏa thuận TRIPs. Cho đến ngày 20 tháng 11 năm 2004, có 157 quốc gia đã ký Công ước Berne.

 

3. Nguyên tắc cơ bản của Công ước Berne năm 1886 

Công ước Beme qui định ba nguyên tắc cơ bản: (a) đối xử quốc gia; (b) bảo hộ tự động, nghĩa là không đòi hỏi thực thi những thủ tục để có được bảo hộ; và (c) tính độc lập của sự bảo hộ, nghĩa là sự bảo hộ tại mỗi Nhà nước Thành viên phải được áp dụng cho các công trình không kể công trình ấy được bảo hộ như thế nào tại nước xuất xứ. Hơn nữa Công ước còn định ra những tiêu chuẩn tối thiêu về bảo hộ và có những điều khoản đặc biệt cho các nước đang phất triển.

Theo đó:

Nguyên tắc đối xử quốc gia: Là nguyên tắc đặt ra cho các quốc gia thành viên thực hiện bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác, tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình. Sự bảo hộ đó không kém thuận lợi, không thấp hơn sự bảo hộ đối với công dân thuộc quốc gia mình. Nguyên tắc này đặt ra sự bình đẳng trong đối xử với công dân và pháp nhân của các quốc gia thành viên.

Nguyên tắc bảo hộ đương nhiên: Là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kì thủ tục hình thức nào, như là thủ tục đăng kí cấp giấy chứng nhận, việc nộp lưu chiểu, hoặc các thủ tục tương tự khác.

Nguyên tắc bảo hộ độc lập: Là nguyên tắc nêu yêu cầu cho các quốc gia thành viên việc bảo hộ để công dân và các pháp nhân được hưởng và thực thi các quyền được cấp theo Công ước là độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.

 

4. Tác phẩm và quyền được Công ước Berne năm 1886 bảo hộ

Tác phẩm được bảo hộ quy định trong công ước bao gồm: Tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào. Các tác phẩm được hưởng sự bảo hộ ở tất cả các nước thành viên của Liên hiệp. Sự bảo hộ này dành cho tác giả và những người thừa kế sở hữu quyền tác giả. Sự bảo hộ theo Công ước này không áp dụng cho những tin tức hàng ngày hay sự kiện, số liệu vụn vặt chỉ mang tính chất thông tin báo chí.

Các quyền được Công ước bảo hộ bao gồm: quyền sao chép, quyền phân phối, quyền dịch, quyền phóng tác, quyền cải biên, chuyển thể, quyền biểu diễn công cộng, quyền kể lại trước công chúng, quyền phát sóng, quyền truyền thông tới công chúng, quyền bán lại tác phẩm nghệ thuật gốc.

Quy định đặc biệt dành cho các nước đang phát triển trong Công ước được quy định tại phụ lục của Công ước. Nước đang phát triển được quyền tuyên bố là mình sẽ chỉ tuân thủ những quy định ở Điều II phụ lục (hạn chế quyền dịch) , hoặc Điều III phụ lục(hạn chế quyền sao chép) hoặc cả hai điều đó. Nước đó cũng có thể ra tuyên bố theo quy định ở Điều V(1)(a) phụ lục (khả năng lựa chọn về hạn chế quyền dịch), thay cho tuyên bố tuân thủ những quy định ở Điều II.

 

5. Sự tương thích và không của Công ước Berne với Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay

Như đã nói ở trên, Việt Nam đã gia nhập công ước ngày 26/10/2004. Sau nhiều lần sửa đổi, Công ước Berne đang đáp ứng được những yêu cầu bảo hộ Quyền tác giả trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay.

Là một thành viên của Công ước Berne, Việt Nam đã từng bước nghiên cứu và ban hành các quy định về Sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu mà Công ước này đặt ra cho các Quốc gia thành viên. Với Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, Việt Nam đã có những quy định về Quyền tác giả tương đối đầy đủ trước yêu cầu phát triển. Việc đánh giá và so sánh các quy định của Công ước Berne và Luật sở hữu trí tuệ hiện hành là việc làm cần thiết để pháp luật về Quyền tác giả tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện thêm.

Khi áp dụng Công ước Berne tại Việt Nam thì có một số thuận lợi là sự tương thích của một số quy định trong Công ước Berne với quy định về Quyền tác giả ở Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam .

Về đối tượng bảo hộ:

Công ước Berne, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đều quy định bảo hộ tất cả các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Các đối tượng gồm: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, bài phát biểu và bài nói, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự, tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học, tác phẩm văn học.

Về tiêu chuẩn bảo hộ: 

Công ước Berne, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cùng quy định bảo hộ các tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ.

Về thời điểm phát sinh Quyền tác giả:

Cùng theo nguyên tắc bảo hộ đương nhiên Công ước Berne, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo, không phân biệt đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

Về thực thi quyền tác giả: 

Những quy định về thực thi Quyền tác giả của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam phù hợp với quy định của Công ước Berne. Để đảm bảo thực thi quyền tác giả có thể áp dụng ba loại thủ tục là dân sự, hành chính và hình sự. Các biện pháp cụ thể được áp dụng bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường thiệt hại, phạt tiền và hình phạt tù.

Bên cạnh một số điều khoản phù hợp thì Công ước Berne và luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có một số điều khoản quy định về Quyền tác giả chênh lệch nhau.

Quy định về các đối tượng không được bảo hộ: 

Công ước Berne không có quy định về vấn đề này trong khi đó Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có Điều 15 quy định về Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, bao gồm: Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Quy định về quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm:

Công ước Berne quy định Quyền tác giả bao gồm quyền tinh thần và quyền kinh tế.

Quyền tinh thần gồm thừa nhận mình là tác giả của tác phẩm và quyền phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa đổi tác phẩm, hoặc các hành vi khác đối với tác phẩm mà có thể phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (Điều 6bis).

Quyền kinh tế bao gồm một số quyền: Quyền dịch thuật, quyền thực hiện phóng tác tác phẩm, quyền chuyển thể tác phẩm, quyền trình diễn công cộng tác phẩm kịch, nhạc kịch, âm nhạc, quyền trần thuật công cộng tác phẩm văn học, quyền truyền thông công cộng trình diễn các tác phẩm; quyền phát sóng; quyền làm sao chép; quyền cho sử dụng tác phẩm.

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định tại Điều 18 : Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

Theo đó:

- Quyền nhân thân (Điều 19) quy định: Quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

- Quyền tài sản (Điều 20) quy định: Quyền làm tác phẩm phái sinh, quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, quyền sao chép tác phẩm, quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả:

Theo Công ước Berne, thời hạn bảo hộ quyền tác giả tối thiểu là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết (Điều 7). Đối với các tác phẩm khuyết danh, tác phẩm điện ảnh thì thời hạn này là 50 năm, còn đối với tác phẩm nhiếp ảnh thì thời hạn bảo hộ là 25 năm.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 27, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Đối với các tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).