I. Hành nghề thẩm phán tại Pháp và Mỹ

1. Điểm tương đồng: 

Thứ nhất, về điều kiện hành nghề, để có thể hành nghề thẩm phán ở Pháp và Mỹ đều cần có bằng cử nhân luật làm điều kiện tiên quyết.

Thứ hai, về phương thức bổ nhiệm, ở cả Pháp và Mỹ đều có hình thức bổ nhiệm thẩm phán bởi Tổng thống mỗi nước.

Thứ ba, về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp: ở cả pháp và Mỹ hay bất cứ quốc gia nào khác, thẩm phán đều có những yêu cầu chung như liêm chính, trung thực, bảo vệ công bằng để có thể đưa ra một phán quyết độc lập, hợp lý nhất. 

2. Điểm khác biệt:

Thứ nhất, về điều kiện hành nghề: Ở Pháp, sau khi nhận được bằng cử nhân luật, các sinh viên luật phải thi và tốt nghiệp khóa đào tạo thẩm phán 31 tháng tại Trường đào tạo thẩm phán quốc gia (ENM) ở Bordeaux thì mới đủ điều kiện để làm việc với tư cách là thẩm phán. Còn theo truyền thống ở Mỹ, các ứng viên của vị trí thẩm phán thường là các luật sư có kinh nghiệm thực tiễn và đã hành nghề ít nhất 6 năm, một số bang còn quy định ít nhất 10 năm (số ít là các giáo sư luật) bởi Mỹ không thực hiện chế độ đào tạo nguồn bổ nhiệm Thẩm phán như Pháp. 

Thứ hai, về cách tuyển chọn/ quy trình bổ nhiệm: Do Pháp với Mỹ phân chia tòa án khác nhau nên việc bổ nhiệm thẩm phán cũng khác nhau. Ở Pháp, các thẩm phán ở cả ngạch Tư pháp và ngạch Hành chính đều do tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng thẩm phán trung ương, Bộ tư pháp hoặc Hội đồng tối cao các Tòa án hành chính và các Tòa án hành chính phúc thẩm. Ở Mỹ cũng có chế định bổ nhiệm, cụ thể là thẩm phán Liên bang, tuy nhiên các thẩm phán này để được Tổng thống bổ nhiệm và Thượng nghị viện phê chuẩn, trước tiên họ phải tham gia tranh cử, vận động ủng hộ với tư cách là các ứng cử viên. Đối với thẩm phán bang, vì có 52 bang nên chế độ tuyển sẽ đa dạng hơn. Một số ít được tuyển cử với nhiệm kì cố định (trên cơ sở bỏ phiếu của cử tri được thực hiện ở một số bang) còn lại đại đa số các bang do thống đốc hoặc thị trường bổ nhiệm.

Thứ ba, về vai trò thẩm phán trong hệ thống tư pháp: Thẩm phán ở Mỹ có một số vai trò khác biệt so với Pháp. Điển hình, thẩm phán Mỹ có thể tạo ra pháp luật mới thông qua các bản án (vì nước Mỹ thuộc dòng họ Common law với ngquồn luật áp dụng án lệ là chủ yếu), còn thẩm phán Pháp lại không có vai trò này. Hơn nữa, do mô hình nhà nước tam quyền phân lập rõ ràng nên thẩm phán Mỹ còn có quyền phủ quyết Tổng thống nếu như nhận thấy những sắc lệnh, quyết định của Tổng thống là vi hiến và xâm phạm quyền con người.

Thứ tư, về mức độ chuyên môn hoá: Bởi ở Pháp có sự phân chia hệ thống toà án một cách rõ ràng nên các thẩm phán tại các toà án Pháp cũng chỉ có thẩm quyền trong phạm vi toà của mình. Ví dụ một thẩm phán toà Tư pháp không có quyền quyết định một vụ việc liên quan đến hành chính. Còn ở Mỹ, thường thì một thẩm phán có thể quyết định rất nhiều các loại vụ việc (dân sự, trọng thương, hình sự, hành chính,...), mặc dù thực tế, trong một số khu vực tài phán, nhiều thẩm phán chỉ được chỉ định một loại vụ án cụ thể và một số tòa án chuyên trách chỉ xét xử các vụ án nhất định.

Thứ năm, về nhiệm kỳ, nếu như tất cả các thẩm phán ở Pháp đều có nhiệm kỳ suốt đời và không thể bị di chuyển nơi làm việc nếu họ không đồng ý thì ở Mỹ, chỉ có thẩm phán Liên bang mới có nhiệm kỳ suốt đời (trừ khi bị luận tội bởi Quốc hội Mỹ). Còn đối với các thẩm phán bang thì nhiệm kì không cố định, tùy theo từng tiểu bang và theo cấp tòa án. Ví dụ như ở New Jersey, các thẩm phán phục vụ nhiệm kỳ bảy năm ban đầu và nếu được tái bổ nhiệm, họ sẽ phục vụ đến tuổi 70.

II. Hành nghề luật sư tại Pháp và Mỹ

1. Điểm tương đồng:

Thứ nhất, về điều kiện hành nghề luật sư: Ở cả Đức và Mỹ, để được hành nghề luật sư đều phải có bằng Cử nhân luật và Chứng chỉ hành nghề Luật sư.

Thứ hai, do quan niệm luật sư của Pháp và Mỹ có sự tương đồng cho nên hình thức hành nghề cũng như cách tính thù lao luật sư của hai quốc gia này cũng giống nhau. Nghề luật sư ở Pháp và Mỹ đều được oi là một nghề tự do, tự do hành nghề và phục vụ khách hàng. Cả hai quốc gia này đều cho phép luật sư có thể hành nghề trong các tổ chức hành nghề (Văn phòng luật sư cá nhân, Công ty hợp danh) hoặc với tư cách cá nhân. Những khoản phí và thù lao luật sư được nhận sẽ do luật sư và khách hàng trực tiếp đàm phán, thỏa thuận với nhau, có thể dựa trên giờ, theo giai đoạn làm việc hoặc dựa theo mức độ phức tạp của vụ việc.

Thứ ba, về loại hình hành nghề luật sư: Pháp và Mỹ đều không có sự phân chia giữa luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng. Pháp đã từng phân chia hai khái niệm này, nhưng về sau, để thuận tiện tiện hơn đối với nghề luật sư khi mở cửa biên giới với các quốc gia châu Âu, Pháp chỉ gọi chung là Avocat (nam)/ Avocate (nữ). Còn ở Mỹ không có sự phân chia này là do đặc thù nền tố tụng Mỹ với vị trí quan trọng của luật sư trong các phiên tòa. Cho nên người ta chi quan tâm tìm được một luật sư giỏi để thắng kiện, chứ không quan tâm đó là luật sư tranh tụng, hay luật sư tư vấn.

Thứ tư, về quy tắc đạo đức của luật sư tại Pháp và Mỹ: với đặc thù là người bảo vệ công lý, Pháp và Mỹ cũng đặt ra những tiêu chuẩn đạo đức nhất định. Hai bộ quy tắc của Pháp và Mỹ đều quy định về những vấn đề như: độc lập; trung thực, công bằng; bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng; xung đột lợi ích, phí dịch vụ... Đặc biệt, ở cả Pháp và Mỹ, khi một luật sư vi phạm đạo đức nghề nghiệp, chế tài nặng nhất dành cho luật sư là thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và chấm dứt con đường sự nghiệp luật sư của họ. 

2. Điểm khác biệt:

Thứ nhất, về điều kiện hành nghề:

- Về chứng chỉ hành nghề luật sư: Ở Pháp, quá trình lấy chứng chỉ hành nghề luật sư ngắn hơn ở Mỹ. Sau khi hết trung cấp, các học viên ngay lập tức có thể học bằng cử nhân luật (04 năm), tiếp đó hoàn thành khóa học 18 tháng tại Trung tâm đào tạo nghiệp vụ (CRFPA) và trải qua một kỳ thi để có giấy chứng nhận về khả năng hành nghề luật sư. Tuy nhiên, để trở thành luật sư ở Mỹ, trước hết phải tốt nghiệp một trường đại học, sau đó mới thi vào trường Luật và học trong vòng 3 năm các môn lý thuyết và thực hành về luật. Sau khi tốt nghiệp trường luật (có bằng JD), học viên thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia mới có bằng hành nghệ luật sư.

- Về việc ghi danh vào Đoàn luật sư: Ở Pháp, việc gia nhập vào một Đoàn Luật sư là điều kiện bắt buộc để có thể hành nghề luật sư. Sau đó học vên tiếp tục tập sự khoảng 2 năm tại Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp rồi mới có thể trở thành luật sư chính thức. Còn ở Mỹ, tham gia vào đoàn luật sư lại không phải là điều kiện bắt buộc đối với tất cả các bang của Mỹ. Khoảng một nửa số bang ở Mỹ đòi hỏi người hành nghề luật phải là thành viên của đoàn luật sư bang mình và điều kiện để tham gia kì thi vào Đoàn luật sư của từng bang cũng khác nhau. 

Thứ hai, về vai trò của luật sư, do sử dụng hệ thống tranh tụng đối kháng chứ không dùng tranh tụng điều tra như Pháp nên luật sư ở Mỹ có vai trò lớn hơn Pháp. Nếu như ở Pháp, luật sư được độc quyền trong trợ giúp và chỉ có vai trò đại diện cho các bên trước tòa với chức năng là người hỗ trợ tư pháp, thì tại Mỹ, luật sư các bên đương sự trong một vụ việc làm tất cả mọi việc cho thân chủ của mình, tòa án hầu như chỉ đóng vai trò thụ động, trung lập và chủ yếu chỉ lựa chọn giữa các chứng cứ và lập luận đưa ra bởi các luật sư để đưa ra phán quyết. 

Thứ ba, về tổ chức luật sư và quản lý luật sư: Ở Pháp, việc quản lý luật sư sẽ do các Liên đoàn ở từng cấp phụ trách, cụ thể là khoảng hơn 50 Liên đoàn trên các vùng. Tuy nhiên, khác với Pháp, ở Mỹ, luật sự cũng như các thẩm phán lại làm việc dưới sự giám sát của Tòa án tối cao của bang nơi họ hành nghề. Tòa án Bang là cơ quan có thẩm quyền công nhận luật sư và cho phép hành nghề. Ngoài ra, đối với những bang đòi hỏi người hành nghề luật phải là thành viên của đoàn luật sư của bang mình, luật sư còn phải chịu sự quản lý, kỉ luật của Đoàn luật sư. 

Thứ tư, về số lượng luật sư, mặc dù số lượng luật sư ở Pháp khá lớn, khoảng 65.480 luật sư. Tuy nhiên con số này không thể so sánh được với Mỹ khi nước Mỹ có khoảng hơn 1.2 triệu luật sư. Không chỉ vì dân số đông, mà nước Mỹ còn được mệnh danh là quốc gia ưa kiện tụng nhất trên thế giới với hệ thống tranh tụng đối kháng nên số lượng luật sư ở Mỹ ngày càng tăng nghề luật sư ở Mỹ trở nên cạnh tranh hơn.

III. Bình luận, đánh giá về hành nghề luật tại Pháp và Mỹ:

Đánh giá tổng quát về hành nghề luật tại Pháp và Mỹ, có thể thấy ở Mỹ, để có đủ điều kiện hành nghề luật khó hơn ở Pháp nhiều lần, về cả thời gian và khối lượng kiến thức. Ví dụ ở Pháp, độ tuổi trung bình của thẩm phán rơi vào khoảng 35 tuổi. Tuy nhiên ở Mỹ, các Thẩm phán thường ở vào độ tuổi trung niên khi họ đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán. 

Tuy nhiên, điều đó lại dẫn tới hành nghề luật ở Mỹ có những ưu thế và phát triển hơn so với Pháp.

Thứ nhất về chất lượng, Mỹ là quốc gia nổi tiếng với những thẩm phán và luật sư tài ba. Điển hình như vị nữ thẩm phán Ruth Bader Ginsburg - người phụ nữ thứ 2 được ngồi chiếc ghế thẩm phán Tòa án tối cao Mỹ trong lịch sử hơn 220 năm, luật sư Phil Beck, luật sư Dan Webb, hay những nhà chính trị đã từng là luật sư như Cựu Bộ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ - Hillary Clinton,....

Thứ hai, về cơ hội nghề nghiệp, nghề luật được xem là những nghề có mức lương cao nhất nước Mỹ.

Có thể thấy, nếu như các luật gia Pháp có lối tư duy pháp lý đi từ cái bao quát đến cái cụ thể, đi từ quy phạm pháp luật ra vụ việc cụ thể thì với nguồn luật án lệ là chủ yếu, các luật gia ở Mỹ lại có lối tư duy pháp lý cụ thể, chủ nghĩa kinh nghiệm (Empiricism), đi từ chi tiết đến cái tổng quát, nguyên tắc