A. Khái niệm nghề luật sư:

Luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia. Luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật, và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bảo vệ quyền lợi của thân chủ trước tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng. Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác. Điều 2 Luật Luật sư 2006 quy định: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Luật sư là người có hoạt động khoa học pháp lý ở vị trí người hướng dẫn pháp luật, luôn lấy việc bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải và công bằng xã hội làm mục tiêu cao quý. Trước khi là một luật sư thì chính bản thân (mỗi luật sư tương lai) phải rèn luyện được tính độc lập, trung thực, khách quan, nhiệt tình trong công việc, không ngại khó, ngại khổ, không dồn trách nhiệm cho đồng nghiệp, cho người khác. Có người nói: “Đã là luật sư cần phải có 3 cái túi, một cái túi đựng giấy tờ, một đựng đầy tiền và cái túi thứ ba chứa đựng sự nhẫn nại”

B. Luật sư ở Việt Nam và luật sư ở Hoa Kỳ:

I. Sự giống nhau:

Không phân biệt giữa luật sư tư vấn và luật sư bào chữa (có những thuật ngữ khác nhau), ở đây tồn tại mô hình “một nghề luật duy nhất” theo đó luật sư có phạm vi hoạt động rất rộng và có hiệu quả. Và những chuẩn mực hành nghề trong quy tắc ứng xử và đạo đức nghề luật phù hợp của nhà nước và xã hội.

II. Sự khác nhau:

1. Đặc điểm:

* Mục tiêu đào tạo:
- Ở Việt Nam, đào tạo luật hướng tới hai cấp độ mục tiêu: mục tiêu thứ nhất là nhằm trang bị kiến thức khoa học pháp lý cho người học. Mục tiêu thứ hai là dạy nghề, với mục tiêu này người học sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề luật.
- Ở Hoa Kỳ, có xu hướng thực hành nhiều hơn với những bài tập giả định về giải quyết án và cách phân tích chi tiết các phán quyết dưới hình thức trao đổi, hội thoại giữa giáo sư và sinh viên (phương pháp Socratic). Đòi hỏi sinh viên phải có sự nghiên cứu các phán quyết, chuẩn bị cách lý giải và đánh giá. Việc giáo dục pháp luật ở đây là nhằm đào tạo ra những người không chỉ biết luật, hiểu luật mà còn biết giải quyết các công việc đa dạng và phức tạp trong thực tế.
* Hệ thống pháp luật: Ở Việt Nam theo hệ thống Luật dân sự (Civil Law) còn Hoa kỳ theo hệ thống Thông Luật (Common Law).

2. Điều kiện hành nghề:

2.1. Luật sư Việt Nam:

Trước hết cần Có bằng cử nhân Luật: cá nhân phải tốt nghiệp trường Luật, khoa Luật của trường Đại học (thông thường là 4 năm học). Tiếp đến Có bằng tốt nghiệp chương trình đào tạo Luật sư: được đăng ký tại Học viện tư pháp (quy định hiện hành được học trong 12 tháng), sau qua kỳ thi ở đây và được cấp bằng tốt nghiệp lớp Luật sư. Tiếp theo là Trải qua kỳ tập sự tại Tổ chức hành nghề Luật sư: cá nhân bắt buộc phải đăng ký tập sự tại 1 tổ chức hành nghề Luật sư với thời gian 12 tháng. Cần Đạt điểm tại kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư: nếu đạt điểm thì được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư, nếu không thì được gia hạn tập sự và tham gia kỳ kiểm tra lại. Và nếu vẫn chưa đạt điểm qua thì phải đăng ký tập sự lại từ đầu (12 tháng nữa). Rồi Cấp chứng chỉ và gia nhập đoàn Luật sư, cấp thẻ hành nghề Luật sư: Nếu đạt kết quả trong kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư thì cá nhân làm hồ sơ theo quy định để xin cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư do Bộ tư pháp cấp, cấp thẻ hành nghề Luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp. Cuối cùng Hành nghề Luật sư: Sau khi được cấp chứng chỉ, gia nhập đoàn, cấp thẻ hành nghề Luật sư thì Luật sư được lựa chọn tổ chức hành nghề Luật sư để hành nghề, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân và phải đăng ký với Sở tư pháp địa phương nơi hành nghề.

2.2. Luật sư Hoa Kỳ:

Sau khi đã có bằng cử nhân ở một đại học bất kỳ ngành nào, học viên mới được đăng ký theo học luật tại một trường luật chính quy, được công nhận tại một tiểu bang hoặc một số tiểu bang thuộc Hoa Kỳ. Sau thời gian 3 năm học chuyên ngành luật, học viên được công nhận tốt nghiệp khi đã trải qua một kỳ thi rất khắt khe.được tổ chức một năm hai lần. Người muốn hành nghề luật sư phải đăng ký tham gia tập sự tại một văn phòng luật sư hoặc công ty luật trong thời hạn 2 năm. Khi hết thời gian tập sự, thì phải tham dự kỳ thi kiểm tra năng lực vào Đoàn luật sư. Ngoài ra phải trải qua một kỳ thi quốc gia về trách nhiệm nghề nghiệp (đạo đức nghề nghiệp). Toà án Bang là cơ quan có thẩm quyền công nhận luật sư Hoa Kỳ và cho phép hành nghề, sẽ chứng nhận lời tuyên thệ của người xin công nhận luật sư và ghi tên người đó vào danh sách luật sư. Người xin được công nhận luật sư phải tuyên thệ trước Tòa án tại một phiên tòa xét xử công khai. Trong thời gian 1-2 năm luật sư phải tham gia một số khoá học gọi là chương trình đào tạo tiếp tục. Nếu trong vòng 1 đến 2 năm này luật sư không tham dự chương trình đào tạo tiếp tục thì Uỷ ban có thể đình chỉ tư cách của luật sư.

3. Chuẩn mực đạo đức:

  Người luật sư phải có tri thức, trình độ chuyên môn, có đạo đức và phẩm chất nghề nghiệp theo bộ quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp luật sư khi áp lực công việc của họ rất lớn, dồn từ cả hai phía: khách hàng và các cơ quan tiến hành tố tụng và khi đối mặt với sự nguy hiểm. Luật sư bào chữa cho bị cáo trong một số vụ án có sức ảnh hưởng, lên án mạnh có thể phải đối diện với cái nhìn không thiện cảm, thậm chí bị đe dọa bởi những người thân của nạn nhân. Từ đó phải giữ được sự tỉnh táo và bình tĩnh để có những lý lẽ đúng đắn bào chữa cho bị cáo, nhằm bảo vệ tính nhân văn và quyền lợi hợp pháp của con người mặc dù người đó có là tội phạm. Cùng với quá trình đấu tranh với các yếu tố bên ngoài, ở mỗi người luật sư còn có sự đấu tranh gay gắt với tư tưởng bên trong để giữ cho mình cái tâm nghề nghiệp cao quý và trong sáng, để có thể tránh xa những cám rỗ của xã hội.
  Bộ quy tắc đạo đức luật sư Hoa Kỳ chỉ có 8 điều nhưng rất chi tiết hơn so với bộ quy tắc đạo đức luật sư Việt Nam, có nhiều ngoại lệ như luật sư Hoa Kỳ được phép hỗ trợ tài chính cho khách hàng trong 2 trường hợp: Thứ nhất, một luật sư có thể tạm ứng chi phí tòa án hoặc chi phí kiện tụng hoặc việc trả nợ có thể phụ thuộc vào kết quả của vấn đề (công việc mà luật sư làm cho khách hàng), Thứ hai một luật sư đại diện cho khách hàng nghèo có thể trả các chi phí tòa án, chi phí kiện tụng thay cho khách hàng. Còn luật sư Việt Nam không được cung cấp, hỗ trợ tài chính cho khách hàng. Luật sư Hoa Kỳ còn có thể tự do trong quá trình hành nghề, tạo mối quan hệ với khách hàng (bất cứ giai đoạn, lý do nào cũng có thể từ chối hoặc chấm dứt). Và việc từ chối hoặc chấm dứt này đối với luật sư Việt Nam thì khó khăn hơn rất là nhiều. 4. Thực tiễn hành nghề: - Có thể nói luật sư, thẩm phán, công tố là ba thành tố quan trọng của các nền tư pháp hình sự trên thế giới. Trong ba thành tố đó, tòa án như một trọng tài, phán xét trên cơ sở tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Công tố viên và luật sư giữa phiên tòa có vị thế bình đẳng với nhau trong việc đưa ra các tài liệu, chứng cứ, luận lý buộc tội và gỡ tội, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Vị thế, vai trò của luật sư Hoa kỳ tại phiên tòa diễn ra đúng như vậy. Trong quá trình tác nghiệp, theo quy định pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ, luật sư bào chữa có 12 quyền, trong đó có quyền: đại diện bị can nay khi bị bắt giữ để cung cấp cho thân chủ tư vấn suốt quá trình thẩm vấn và để đảm bảo sự bảo hộ của Hiến pháp không bị xâm phạm suốt quá trình tiền tố tụng; giám sát báo cáo của cảnh sát và điều tra sâu hơn để bào chữa cụ thể; phỏng vấn cảnh sát, bị can, nhân chứng và tìm kiếm bằng chứng và nhân chứng bổ sung nhân danh nguyên đơn. Qua nghiên cứu và phỏng vấn trực tiếp một số chuyên gia pháp luật Hoa Kỳ, chưa thấy luật sư Hoa Kỳ phải thực hiện thủ tục “đăng ký bào chữa” như luật sư tại Việt Nam. Theo Thomas J.Gardner, Terry M.Anderson, tại Hoa kỳ , luật sư bào chữa có toàn quyền đánh giá, kiểm tra chứng cứ và có tiếng nói quyết định về chứng cứ nào sẽ được đem trình bày trước thẩm phán và bồi thẩm đoàn tại phiên toàn xét xử.
- Ở nước ta, luật sư vẫn được xếp vào một nghề “bổ trợ tư pháp”, chưa phải là một chủ thể tư pháp. Vẫn chưa được tôn trọng vị thế, vai trò, thậm chí vẫn còn những cản ngại nhất định cho hoạt động tác nghiệp của luật sư trong từng vụ án cụ thể, đặc biệt là trong giai đoạn tố tụng điều tra. Để được tham gia vào các giai đoạn tố tụng (bao gồm cả điều tra), luật sư phải thực hiện thủ tục “đăng ký bào chữa” (Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã thay thế thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa bằng thủ tục này). Thủ tục đăng ký bài chữa của luật sư Việt Nam. Theo đó, trong giới hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa thì vào sổ đăng ký người bào chữa, gửi ngay văn bản người bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu các giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa trong hồ sơ vụ án, nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản (Điều 78). Các luật sư tham gia lấy lời khai của bị can chỉ được ngồi nghe. Khi luật sư muốn hỏi thân chủ để làm rõ vấn đề thì phải được điều tra viên đồng ý. Có những trường hợp luật sư phải đưa câu hỏi trước để điều tra viên duyệt, rồi phải hỏi thân chủ theo… kế hoạch điều tra. Nhiều khi luật sư muốn đưa ra câu hỏi gì đối với thân chủ phải tranh luận, thuyết phục điều tra viên. Khi hỏi, những câu hỏi và trả lời đó có được ghi vào biên bản hay không cũng là vấn đề.